2) Công ty chúng tôi có nhận được đơn xin chấm dứt hđlđ của 1 lao động nữ vào ngày 01/07/2017. Ngày 06/07, công ty đã ban hành quyết định chấm dứt HĐLĐvới lao động này có hiệu lực từ ngày 15/08/2017 (do lao động này đã ký HĐLĐ không xác định thời hạn). Tuy nhiên, sau đó người lao động nghỉ tự do từ ngày 11/7/2017 đến hết ngày 19/7/2017. Công ty đã họp xử lý kỷ luật (có cả người lao động tham gia) vào ngày 08/08/2017, quyết định áp dụng hình thức sa thải đối với lao động này do vi phạm nội quy lao động của công ty cũng như luật lao động: tự ý bỏ việc 5 ngày cộng dồn trong 1 tháng.

Vậy công ty chúng tôi sẽ phải ra quyết định thu hồi lại quyết định chấm dứt HĐLĐ đã ban hành trước đó, hay chỉ cần ban hành quyết định sa thải kèm theo ghi chú là thay thế cho quyết định chấm dứt HĐLĐ đã ban hành (từ ngày 06/7) có hiệu lực từ ngày 15/8 ?

Rất mong nhận được phản hồi của quý công ty. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Có phải trả trợ cấp thôi việc khi người lao động xin nghỉ hưu sớm không?

Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi:1900.6162

1. Cơ sở pháp lý

Bộ luật Lao động năm 2012

2. Luật sư trả lời:

Thứ nhất, về trợ cấp thôi việc cho người lao động

Trợ cấp thôi việc là một khoản tiền NSDLĐ phải trả cho người lao động trong hầu hết các trường hợp chắm dứt hợp đồng lao động
Trợ cấp thôi việc có ý nghĩa như một phần thưởng cho người lao động vì đã có thời gian đóng góp cho người sử dụng lao động. Đồng thời giúp người lao động có kinh phí trang trải trong thời gian tìm kiếm công việc mới.

Theo quy định tai Điều 48 Bộ luật Lao động 2012, khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 36 của Bộ luật này thì người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương. Như vậy, các trường hợp phát sinh trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc của người sử dụng lao động bao gồm:

1. Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 192 của Bộ luật này.

2. Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.

3. Hai bên thoả thuận chấm dứt hợp đồng lao động.

5. Người lao động bị kết án tù giam, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án.

6. Người lao động chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết.

7. Người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Toà án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc là đã chết; người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động.

9. Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật này.

10. Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật này; người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhật, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.

Đối chiếu theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2012 về các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động thì có hai trường hợp không trả trợ cấp thôi việc:

4. Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.

8. Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải theo quy định tại khoản 3 Điều 125 của Bộ luật này.

Từ các quy định trên có thể thấy, chỉ khi nào người lao động đủ cả hai điều kiện về tuổi (đủ 55 tuổi với nữ) và về thời gian đóng bảo hiểm (đủ 20 năm trở lên) thì mới không trả trợ cấp thôi việc. Ở đây người lao động sinh năm 1966 thì nay họ được 53 tuổi, do đó trường hợp này khi người lao động xin nghỉ- đơn phương chấm dứt hợp đồng đúng pháp luật thì công ty vẫn có nghĩa vụ trả trợ cấp thôi việc. Vì mặc dù người lao động đã đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội nhưng chỉ xin nghỉ để hưởng hưu sớm chứ chưa đủ tuổi hưởng lương hưu.

Thứ hai, ra quyết định thu hồi lại quyết định chấm dứt hợp đồng hay ra quyết định sa thải người lao động?

Trường hợp này người lao động đang thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động; phía người sử dụng lao động đã đồng ý với việc chấm dứt hợp đồng nhưng đã ghi rõ trong quyết định ngày có hiệu lực là ngày 15/8/2017. Điều này có nghĩa ngày 15/8/2017 được xác định là ngày chấm dứt hợp đồng giữa hai bên, vì thế trước thời gian này người lao động vẫn có nghĩa vụ làm việc cho công ty. Vì theo quy định tại Điều 37 về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người lao động thì:

3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

Và việc người lao động tự ý nghỉ việc từ ngày 11/7 đến 19/7 đối chiếu theo quy định của Bộ luật lao động:

Điều 126: Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động.

Việc công ty xử lý kỷ luật sa thải là đúng quy định của pháp luật. Trường hợp này sẽ không xem xét là chấm dứt hợp đồng lao động theo hướng đơn phương nữa mà sẽ là chấm dứt hợp đồng lao động khi sa thải lao động, công ty chỉ cần tiến hành theo đúng thủ tục xử lý kỷ luật sa thải và ra quyết định sa thải theo đúng quy định của pháp luật.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về việc Chấm dứt hợp đồng và chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật bảo hiểm xã hội - Công ty luật Minh Khuê