1. Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có cho một bạn A mượn 500 triệu đồng bằng tiền mặt, hai người đã ghi giấy vay mượn tiền và hẹn đến hai tháng sau sẽ trả tiền, nhưng hiện tại đã hết thời hạn rồi mà bên kia không trả tiền cho tôi, tôi có gọi điện nhưng bạn ấy cứ khất hết lần này qua lần khác, bạn ấy có nhà riêng, có xe ô tô riêng để đi lại nhưng bạn ấy cứ nói là không có tiền để trả cho tôi rồi cứ khất lần này đến lần khác
Vậy, nếu tôi báo công an thì hành vi này có bị tội hình sự hay không? Có phải là bạn ấy lợi dụng tình bạn để mượn tiền tôi xong cố tình không trả tôi hay không?
Mong được giải đáp thắc mắc, cám ơn!

Luật sư tư vấn:

- Yếu tố cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là gì ?

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, Cụ thể các yếu tố cấu thành của tội danh này như sau:

Dấu hiệu về mặt chủ thể của tội phạm: Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo luật định.

Dấu hiệu về mặt khách thể của tội phạm: Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, đặc điểm này được thể hiện trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhà làm luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Dấu hiệu về mặt chủ quan của tội phạm: Cũng như đối với tội có tính chất chiếm đoạt, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt, người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Dấu hiệu về mặt khách quan của tội phạm: Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được cấu thành khi thuộc một trong các trường hợp sau: Giá trị của tài sản chiếm đoạt của người khác từ 4.000.000 đồng trở lên;Giá trị tài sản chiếm đoạt dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội về xâm phạm sở hữu khác: tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, tội trộm cắp, tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; Tài sản bị chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống của chính người bị hại hoặc gia đình họ.

Những hành vi khách quan cần có những điểm đáng lưu ý sau: Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua các hợp đồng vay, mượn thuê tài sản của người khác hoặc bằng hình thức khác. Sau khi có được tài sản người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; Nếu người phạm tội không dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn nhưng sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản thì cũng bị coi là lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

- Căn cứ khởi tố vụ án hình sự về chiếm đoạt tài sản ?

Theo Bộ Luật tố tụng hình sự 2015 thì chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:

- Tố giác của cá nhân;

- Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;

- Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;

- Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;

- Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm;

- Người phạm tội tự thú.

- Thời hạn điều tra hành vi chiếm đoạt tài sản ?

Như bạn có nói ở trên thì số tiền bạn cho mượn là 150 triệu đồng, đối với tình tiết này thì đã chạm vào Khoản 2 Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 và mức phạt cao nhất của tội khoản này là bảy năm tù, mà theo Điều 9 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017 thì mức này thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù;

=> Như vậy, Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra. Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra. Việc gia hạn điều tra Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng.

Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đe dọa tung ảnh nóng lên mạng xã hội theo pháp luật thì bị xử lý như thế nào ?

2. Trường hợp vay tiền không trả và cách giải quyết ?

Xin chào Luật sư! Anh của tôi cho bạn của anh ta mượn 25 triệu lấy lãi và cũng rất lâu rồi. Do nghĩ là bạn bè thân nên không ghi giấy tờ gì cả. Thời gian gần đây anh của tôi cần thu hồi vốn về để kinh doanh nên đã ngỏ ý với người bạn ấy là thu lại 25 triệu. Sau nhiều lần khước từ, lẫn trốn nợ anh tôi thì anh bạn đó cũng chịu trả 15 triệu và còn nợ lại 10 triệu. Những lần sau anh ta vẫn trốn và khước nợ nên anh tôi đã có vài lần gọi điện mắng và hăm dọa yêu cầu trả tiền gấp. Do sơ suất nên đã để người bạn đó ghi âm được lời hăm dọa, chụp được ảnh của anh tôi. Sau đó anh bạn đấy dọa ngược lại anh tôi, nói là sẽ đưa bản ghi âm này ra tòa cho anh tôi đi tù.
Vậy cho hỏi, bên chúng tôi sai hay sao ? Và nếu băng ghi âm đó ra tòa, anh tôi phải đi tù như vậy sao
Xin chân thành cảm ơn Luật sư!

Cho vay tiền làm ăn có tiền nhưng không trả?

Luật sư tư vấn luật hình sự về hành vi lừa đảo, gọi : 1900.6162

Trả lời:

Trước hết, việc gọi điện mắng và hăm doạ để đòi nợ của anh bạn chưa rõ nội dung nên không thể xác định chính xác tội danh. Tuỳ vào tính chất hành vi thì có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự về việc xúc phạm danh sự, nhân phẩm người khác.

Quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017:

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

...

Khoản 1 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy và chữa cháy; Phòng, chống bạo lực gia đình. quy định:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;

b) Gây mất trật tự ở rạp hát, rạp chiếu phim, nhà văn hóa, câu lạc bộ, nơi biểu diễn nghệ thuật, nơi tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, lễ hội, triển lãm, hội chợ, trụ sở cơ quan, tổ chức, khu dân cư, trường học, bệnh viện, nhà ga, bến tàu, bến xe, trên đường phố, ở khu vực cửa khẩu, cảng hoặc ở nơi công cộng khác;

c) Thả rông động vật nuôi trong thành phố, thị xã hoặc nơi công cộng.

Để đòi lại số tiền mà người bạn chưa trả, anh bạn có thể khởi kiện lên Toà án nơi người bạn kia đang cư trú để Toà án can thiệp xử lý, yêu cầu trả tiền.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Đất chuyên dùng ? Đất chuyên dùng có được cầm cố, thế chấp hay không ?

3. Vay tiền mà không trả có bị truy cứu TNHS ?

Kính gửi Luật sư! tôi có cho người bán kinh doanh muốn 1 số vốn để làm ăn. Nhưng sau khi họ không còn buôn bán nữa hứa sẽ trả lại tiền nhưng đến nay họ không chịu trả vốn lại còn có nguy cơ chiếm đoạt. Vậy tôi phải làm đơn như thế nào để khởi kiện? Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Thứ nhất, anh có thể khởi kiện ra Tòa án nhân dân huyện nơi người vay cư trú để đòi lại số tiền vay vì tranh chấp về hợp đồng vay thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Thứ hai, anh có thể tố cáo ra cơ quan công an để tố cáo hành vi của người vay, bởi hành vi này có thể cấu thành tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015 như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

....

Như vậy, trong trường hợp này, nếu người kia vay của anh số tiền từ 4 triệu đồng trở lên, mà khi đến hạn trả tiền lại có ý định trốn tránh thực hiện nghĩa vụ trả nợ và chiếm đoạt số tiền của anh thì anh có thể lên cơ quan công an để tố cáo hành vi trên. Lúc này, ngoài nghĩa vụ phải trả nợ cho anh thì người thực hiện hành vi chiếm đoạt còn phải chịu trách nhiệm hình sự cho hành vi của mình.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn khởi kiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: lTư vấn pháp luật hình sự qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Rủi ro khi nhờ người đứng tên vay trả góp mua nhà và đứng tên nhà hộ là gì ?

4. Người vay tiền bỏ trốn họ phải chịu trách nhiệm gì ?

Xin luật sư tư vấn cho tôi. Tôi có cho 1 người bạn vay tiền 200 triệu, thỏa thuận là làm hợp đồng cả 2 vợ chồng cùng ký, do vợ bạn tôi con nhỏ nên bạn tôi cầm hợp đồng về cho vợ ký, sau đó mang đến nhà tôi viết giấy biên nhận và bàn giao tiền. Mục đích vay là để kinh doanh. Đến nay hết hạn mà người bạn không trả được tiên cho tôi, không liên lạc được và cũng không còn ở nơi cư trú.
Tôi gặp người vợ thì chị ta khẳng định chị ta không ký. Qua tìm hiểu tôi được biết bạn tôi vay tiền về để cho vay nặng lãi. Như vậy với hành vi gian dối, giả mạo chữ ký, sử dụng tiền không đúng mục đích dẫn đến không có khả năng trả nợ như vậy có đưa được vào luật hình sự không hay chỉ là dân sự ?

Người vay tiền bỏ trốn họ phải chịu trách nhiệm gì ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tại Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

...

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn của bạn đã vay bạn số tiền là 200 triệu đồng, đến hạn thì người đó không trả và người đó đã chuyển chỗ ở, chặn mọi hình thức liên lạc với bạn; như vậy, người này đã có hành vi vay tài sản của bạn, hiện nay không có khả năng trả nợ, đã có dấu hiệu bỏ trốn nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và chiếm đoạt số tiền đã vay. Vì vậy với số tiền bạn đã cho vay và những hành vi của người bạn đó, bạn có thể khởi kiện tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung 2009 với khung hình phạt từ 7 năm đến 15 năm tù.

Vì thế để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình bạn cần phải làm đơn tố cáo đến cơ quan cơ quan công an nơi bạn cư trú về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nêu trên. Sau khi xem xét và xác định cơ quan có thẩm quyền, cơ quan công an sẽ làm thủ tục chuyển quyền điều tra vụ án cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Bạn có thể gửi đơn tố cáo hành vi của người này đến các cơ quan nêu trên, kèm theo các tài liệu, chứng cứ có liên quan để đề nghị khởi tố vụ án nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn về cách xác lập hợp đồng vay tài sản ?

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Vay hỗ trợ trả góp và mua điện thoại trả góp mà mất khả năng lao động thì bị xử lý thế nào ?

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Vay tiền trả góp bị quá hạn thanh toán thì phải chịu trách nhiệm gì ?