1. Chủ tàu là gì?

Chủ tàu (Shipowner) là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu tàu biển. Thuật ngữ này còn được gọi là “owner”.

Chủ tàu (Owner) là dạng viết rút gọn của “shipowner” và được sử dụng tương đối phổ biến.

Điều 15 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định:

"Điều 15. Chủ tàu

1. Chủ tàu là người sở hữu tàu biển.

2. Người quản lý, người khai thác và người thuê tàu trần được thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ tàu quy định tại Bộ luật này theo hợp đồng ký kết với chủ tàu.

3. Tổ chức được Nhà nước giao quản lý, khai thác tàu biển cũng được áp dụng các quy định của Bộ luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan như đối với chủ tàu."

Như vậy, có thể thấy chủ tàu được hiểu là người có quyền sở hữu đối với tàu biển.

2. Chủ tàu có trách nhiệm như thế nào trong việc đăng ký tàu biển tại Việt Nam?

Tàu biển Việt Nam là tàu biển đã được đăng ký vào Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam hoặc đã được cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài cấp giấy phép tạm thời mang cờ quốc tịch Việt Nam.

Căn cứ Điều 22 Bộ luật Hàng hải Việt Nam năm 2015 quy định:

"Điều 22. Trách nhiệm của chủ tàu về đăng ký tàu biển tại Việt Nam

1. Chủ tàu có trách nhiệm cung cấp đầy đủ các giấy tờ và khai báo đầy đủ, chính xác các nội dung liên quan đến tàu biển đăng ký quy định tại Điều 20 và Điều 24 của Bộ luật này cho Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam.

2. Trường hợp tàu biển do tổ chức, cá nhân Việt Nam đóng mới, mua, được tặng cho, thừa kế thì chủ tàu có trách nhiệm đăng ký tàu biển theo quy định.

3. Chủ tàu có trách nhiệm nộp lệ phí đăng ký tàu biển theo quy định của pháp luật.

4. Sau khi chủ tàu hoàn thành việc đăng ký tàu biển thì được cấp Giấy chứng nhận đăng ký tàu biển Việt Nam. Giấy chứng nhận này là bằng chứng về việc tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam và tình trạng sở hữu tàu biển đó.

5. Chủ tàu có trách nhiệm thông báo chính xác, đầy đủ và kịp thời cho Cơ quan đăng ký tàu biển Việt Nam về mọi thay đổi của tàu liên quan đến nội dung đăng ký trong Sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam.

6. Các quy định tại Điều này được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam thuê tàu trần, thuê mua tàu."

3. Chủ tàu đồng thời là người vận chuyển trong trường hợp nào?

Chủ tàu (shipowner), thường gọi là “owner”, và người vận chuyển (carrier) có thể cùng là một cá nhân hay tổ chức và có thể không cùng là một, tùy từng trường hợp cụ thể. Về trách nhiệm pháp lý, chủ tàu và người vận chuyển có trách nhiệm khác nhau đối với hàng hóa trước người thuê vận chuyển và người nhận hàng.
Khái niệm “chủ tàu” (owners) theo tập quán quốc tế thường thể hiện dưới các dạng sau: “Owners” (chủ tàu), “Disponent Owners” (chủ tàu danh nghĩa), “Timecharter-Owners” (chủ tàu thuê định hạn). Ví dụ như trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến mẫu “North American Fertilizer Charter Party 1978/88” (code name: “fertivoy 88”), “Owners (Disponents)” trong Coal Voyage Charter 1971 (revised may 1997) code name: “POLCOALVOY”, “Owners/Chartered Owners/Disponent Owners” trong mẫu “Coal Charter Party”, code name: “NIPPONCOAL” và mẫu “Gasvoy” chở khí lỏng (liquid gas) trừ LNG, “Owners/Chartered Owners” trong “Intertanktime 80”... và trên thực tế, “owners” có thể được hiểu là người thuê tàu định hạn, người cho thuê lại tàu (chartered owners), chủ tàu “thật” (actual owners), chủ tàu đăng ký (registered owners)... Vì vậy, thực tế cho thấy, nhiều người có thể “tự xưng” là “owners” mà không cần có (sở hữu) tàu.
Trong khi đó, khái niệm “chủ tàu” theo Bộ luật Hàng hải Việt Nam, Điều 15: “1. Chủ tàu là người sở hữu tàu biển. 2. Doanh nghiệp nhà nước được Nhà nước giao quản lý, khai thác tàu biển cũng được áp dụng các quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan như đối với chủ tàu”, và “người vận chuyển” là: “người vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển” . Như vậy, có sự khác nhau về khái niệm “chủ tàu” giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và một tập quán quốc tế.
Khi người sở hữu tàu dùng tàu của mình để ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì chủ tàu đồng thời là người vận chuyển. Ví dụ: Vietftacht (VF) sở hữu tàu Vietfracht 01 (VF 01) và dùng tàu này ký kết một hợp đồng vận chuyển hàng hóa theo chuyến (voyage charter party) để vận chuyển hàng hóa thì VF là “người vận chuyển” theo khoản 2, Điều 72, Bộ luật Hàng hải Việt Nam. Nếu VF không “tự mình” như điều luật trên quy định mà ủy quyền cho người khác (người đại lý tàu biển chẳng hạn) ký hợp đồng vận chuyển hàng hóa thì VF vẫn là “người vận chuyển” và người đại lý ký hợp đồng với tư cách “chỉ là đại lý” (As Agents Only). Nếu VF ký hợp đồng vận chuyển theo chuyến, ví dụ như mẫu “Gencon” mẫu sửa đổi 1922, 1976 và 1994 (as revised 1922, 1976 and 1994), với một người thuê vận chuyển nước ngoài, thì VF được gọi là “chủ tàu” tuy “bản chất” vẫn là người vận chuyển như Điều 1 (của hợp đồng) nêu: “It is agreed between the party mentioned in Box 3 as the Owners of the Vessel…”. Ô số 3 ghi: “Owners/place of business: ...” và Điều 2 nêu: “Owners’ Responsibility Clause - The Owners are to be responsible for loss of or damage to the goods or for delay in delivery of the goods only in case the loss, damage or delay has been caused by personal want of due diligence on the part of the Owners…”.
Nếu VF cho thuê tàu định hạn, VF sẽ là chủ tàu đối với người thuê định hạn (time charter) và cũng là chủ tàu đối với người đi thuê lại (sub-charterer). Nếu thuyền trưởng ký vận đơn theo mẫu của chủ tàu (Owner’s bill of lading - Vietfracht’s Bill of Lading) thì đối với người nhận hàng theo vận đơn (consignee) hay người nắm giữ vận đơn (Bill of lading holder) thì chủ tàu đăng ký hoặc chủ tàu thật (actual owner) - VF - sẽ là người vận chuyển (carrier). Nếu vận đơn là vận đơn của người thuê tàu định hạn (time charterer’s Bill of lading) và thuyền trưởng ký vận đơn thay mặt chủ tàu thật (VF) thì trong trường hợp đó VF cũng là người vận chuyển.
Hợp đồng thuê tàu định hạn theo mẫu “Baltime 39” và mẫu “Nype 93” ghi một bên là chủ tàu “Owners” trong khi đó mẫu “Boxtime” - thuê định hạn tàu chở container và mẫu “Gentime” (General Time Charter Party) - ghi “Owners/Disponent Owners” trong khi mẫu thuê định hạn tàu chở hàng lỏng (tanker time charter party) “Intertanktime 80” ghi “Owners/Chartered Owners”. Như vậy, “chủ tàu” trong hợp đồng thuê định hạn có thể không phải là chủ tàu đăng ký (register owners) mà chỉ là chủ tàu danh nghĩa (disponents) - người thuê lại tàu (chartered owners).
Nếu VF cho thuê tàu trần (bareboat charter) thì trong hợp đồng thuê tàu trần, chẳng hạn như mẫu “Barecon 89”, VF sẽ là chủ tàu (Owners) và người thuê tàu trần là “Bareboat charterers (Charterers)”. Điều 1 của hợp đồng này giải thích rằng “chủ tàu” là người hoặc công ty đăng ký là chủ tàu; người thuê tàu là “người thuê tàu trần” và không phải là người thuê tàu định hạn hay người thuê vận chuyển trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến” (... “The Owners’ shall mean the person or company registered as Owners of the Vessel. “The Charterers” shall mean the Bareboat charterers and shall not be construed to mean a time charterer or a voyage chaterer”). Người thuê tàu trần là người thuê tàu đối với chủ tàu và là người vận chuyển đối với người nhận hàng theo vận đơn. VF là chủ tàu đăng ký (registered owner), đôi khi gọi là chủ tàu thật (actual owner), không phải là người vận chuyển trong mọi trường hợp.
Như vậy, trên thực tế, có sự khác nhau về khái niệm “chủ tàu” giữa Bộ luật Hàng hải Việt Nam và tập quán quốc tế. Qua đó, có thể thấy, trong hầu hết trường hợp, “chủ tàu” vẫn chịu trách nhiệm đối với hàng hóa như một “người vận chuyển” trong hợp đồng vận chuyển theo chuyến. Khi ký kết hợp đồng vận chuyển theo chuyến có ít nhất một bên là cá nhân hoặc tổ chức nước ngoài thì không nhất thiết phải sửa từ “owners” thành “carrier” vì đã có tập quán hàng hải quốc tế điều chỉnh.

4. Phân biệt giữa chủ tàu và người vận chuyển

Người vận chuyển
– Người vận chuyển có thể là chủ tàu hay người thuê tàu định hạn, họ là bên ký hợp đồng vận tải với chủ tàu
– Thực hiện ký kết hợp đồng với chủ hàng chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa từ cảng nhận đến cảng trả hàng, đảm bảo thực hiện đúng cam kết trong hợp đồng
– Người vận chuyển có thể là người tự ký kết hoặc ủy quyền cho người khác giao kết hợp đồng với chủ tàu ,thanh toán tiền cước thuê tàu cho chủ tàu
Chủ tàu
– Là người sở hữu con tàu về mặt pháp lý nắm giữ giấy đăng ký tàu và là người có quyền định đoạt con tàu
– Chủ tàu không trực tiếp tham gia ký kết hợp đồng vận chuyển với người thuê vận chuyển mà chỉ ký kết hợp đồng cho thuê tàu với người thuê tàu và chịu trách nhiệm trc pháp luật theo từng quyết định cụ thể trong hợp đồng và bộ luật hàng hải Việt Nam
– Chủ tàu chuyển giao quyền sử dụng con tàu cho người thuê tàu trong 1 thời gian nhất định với mục đích sử dụng đã thỏa thuận rõ trong hợp đồng và nhận tiền thuê tàu do người thuê tàu trả.

5. Hợp đồng thuê tàu chuyến

Hợp đồng thuê tàu chuyến là một dạng của hợp đồng thuê tầu, chúng ta có thể đưa ra khái niệm về hợp đồng thuê tầu chuyến như sau:

Hợp đồng thuê tầu chuyến là hợp đồng chuyên chở hàng hoá bằng đường biển, trong đó người chuyên chở cam kết sẽ chuyên chở hàng hoá từ một hay một số cảng này đến một hay một số cảng khác giao cho người nhận còn người thuê tầu cam kết sẽ thanh toán cuớc phí theo đúng như thoả thuận của hợp đồng.

Người chuyên chở (carrier) trong hợp đồng thuê tầu chuyến có thể là chủ tầu (ship-owner) nhưng cũng có thể không phải là chủ tầu mà chỉ là người thuê tầu của người khác để kinh doanh lấy cước.

Còn người thuê tầu để chuyên chở hàng hoá có thể là người xuất khẩu và cũng có thể là người nhập khẩu theo điều kiện và cơ sở giao hàng được áp dụng trong hợp đồng mua bán ngoại thương.

Song trên thực tế người thuê tầu và người cho thuê tầu rất ít khi trực tiếp ký hợp đồng với nhau.

Trong thuê tầu nói chung và thuê tầu chuyến nói riêng, người ta hay thông qua đại lý hoặc người môi giới để tiến hành việc thuê tầu.

Người môi giới hay đại lý thường là những người có chuyên môn, am hiểu về thị trường thuê tầu, luật hàng hải, tập tục của các cảng... chính vì vậy khi thay mặt cho người thuê hay người cho thuê tầu để ký kết hợp đồng chuyên chở sẽ bảo đảm quyền lợi cho người uỷ thác tốt hơn.