1. Luật hàng hải quốc tế là gì?

Bộ luật hàng hải (BLHH) là Bộ luật kinh tế chuyên ngành đầu tiên của Việt Nam, được ban hành lần đầu vào năm 1990 và sửa đổi năm 2005, Bộ luật có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành hàng hải và kinh tế xã hội của đất nước; đồng thời giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về hàng hải ở nước ta.

Luật hàng hải quốc tế có thể hiểu là tổng thể những nguyên tắc, những QPPL quốc tế điều chỉnh những quan hệ phát sinh từ hoạt động hàng hải. Các hoạt động hàng hải bao gồm các quy định về tàu biển, thuyền viên, cảng biển, luồng hàng hải, cảng cạn, vận tải biển, an toàn hàng hải, an ninh hàng hải, phòng ngừa ô nhiễm môi trường và các hoạt động khác liên quan đến việc sử dụng tàu biển vào mục đích kinh tế, văn hoá, thể thao, công vụ và nghiên cứu khoa học( điều 1 luật hàng hải việt nam). Khi nhắc đến lĩnh vực về hàng hải, có thể người ta chỉ nghĩ đến đó là đi biển hay đó là những suy nghĩ liên quan đến mặt nước và nghề đi tài. Thế nhưng, theo cách lí giải dưới góc độ khoa học pháp lý thì hàng hải được hiểu theo nghĩa rất rộng, đó là tất cả các ngành gồm công việc như: Bảo đảm hàng hải, đóng tàu, các hoạt động phụ trợ như đại lý môi giới, hoa tiêu, các công việc về ngành vận tải biển khai thác cảng.

 

2. Quan hệ phát sinh từ hoạt động hàng hải quốc tế

Các quan hệ phát sinh từ hoạt động hàng hải có thể xếp thành các nhóm sau:

Quan hệ phát sinh từ hoạt động vận tải đường biển, người vận chuyển, người thuê vận chuyển, giữa chủ hàng và chủ tàu, người khai thác tàu, hợp đồng đại lý tàu biển, môi giới hàng hải, giao nhận hàng hoá; giữa người bảo hiểm, quan hệ về sở hữu tàu, cầm cố, bắt giữ hàng hải, bắt giữ tàu biển, cứu hộ hàng hải. Quan hệ dân sự phát sinh ngoài hợp đồng

Quan hệ phát sinh giữa các quốc gia liên quan đến tàu biển hoạt động trong các vùng biển. Quốc gia tàu mang cờ, quốc gia có cảng, quốc gia ven biển, quy định về cấu trúc của tàu, an toàn hàng hải, phòng chống ô nhiễm biển, trang thiết bị của tàu, về điều kiện và khả năng chuyên môn của thuyền viên

Quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính hàng hải, quản lý cảng biển và luồng hàng hải; an toàn an ninh hàng hải và phòng ngừa ô nhiễm môi trường; quản lý tàu biển và thuyền viên.

 

3. Nguồn của luật hàng hải quốc tế

Điều 38 quy chế Toà án quốc tế, các vụ tranh chấp được chuyển đến Toà án, sẽ áp dụng:
Các Điều ước Quốc tế (ĐƯQT )chung hoặc riêng, đã quy định về những nguyên tắc được các bên tranh chấp thừa nhận
Các tập quán quốc tế như những chứng cứ thực tiễn chung được thừa nhận như những QPPL
Nguyên tắc chung của luật được các quốc gia văn minh thừa nhận
Các án lệ và các học thuyết của các chuyên gia có chuyên môn cao nhất về luật quốc tế của các quốc gia khác nhau được coi là phương tiện xác định của QPPL
Ngoài 4 nguồn trên, Luật hàng hải quốc tế còn bao gồm pháp luật của các quốc gia liên quan và các Nghị quyết của các tổ chức quốc tế.
 

3.1. Điều ước Quốc tế

 Điều ước Quốc tế là 1 trong những nguồn cơ bản, quan trọng của PLQT hiện đại
Điều ước Quốc tế là sự thoả hiệnp giữa các chủ thể, trước hết và chủ yếu giữa các quốc gia, trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng, nhằm ổn định, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ đối với nhau
Điều ước Quốc tế có thể là Điều ước Quốc tế song phương, có thể là Điều ước Quốc tế đa phương; có thể là Điều ước Quốc tế có tính chất khu vực hoặc toàn cầu, được công nhận là nguồn của Luật quốc tế hiện đại nếu được ký kết trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế hiện đại
Điều ước Quốc tế có nghĩa là thoả thuận quốc tế được ký kết giữa các quốc gia dưới dạng văn bản và được điều chỉnh bằng Luật quốc tế, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong 1 vă bản hoăc 2 hay 1 số văn bản có liên quan với nhau, đồng thời không phụ thuộc vào tên gọi của nó(điều 2 công ước Vienna năm 1969)
Trong lý luận và thực tiễn của khoa học pháp lý quốc tế, Điều ước Quốc tế là nguồn cơ bản của công pháp quốc tế và cũng là nguồn quan trọng của tư pháp quốc tế và tất nhiên trong lĩnh vực hàng hải quốc tế nó có vị trí đặc biệt quan trọng
Điều ước Quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế chứa đựng hầu hết các nguyên tắc QPPL được thoả thuận của các quốc gia trên thế giới trên quy mô toàn cầu, khu vực và song phương, các nguyên tắc và các QPPL về hàng hải quốc tế ngày càng được bổ sung và hoàn thiện như những mực thước, quy chuẩn để mọi chủ thể tham gia hoạt động hàng hải phải tuân thủ tuyệt đối
Số lượng ĐƯQT trong lĩnh vực hàng hải quốc tế hiện nay rất đa dạng và nó có đặc điểm là liên quan chặt chẽ với nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau như Luật TMQT, luật BHQT, Luật MTQT, Luật HSQT,…

Điều ước Quốc tế về hàng hải

Công ước về Tổ chức hàng hải quốc tế 1948 (sửa đổi 1991,1993)
Công ước  về tạo thuận lợi trong giao thông hàng hải quốc tế 1965
Công ước Quốc tế về mạn khô 1966, Nghị định thư 1988 sửa đổi Công ước Quốc tế về mạn khô 1966
Công ước Quốc tế về đo dung tích tàu biển 1969
Công ước Quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với tổn thất ô nhiễm dầu 1969
Công ước Quốc tế liên quan đến sự can thiệp trên biển cả trong trường hợp tai nạn gây ô nhiễm dầu 1969
Công ước về trách nhiệm dân sự trong lĩnh vực vận chuyển vật liệu hạt nhân bằng đường biển 1971
Công ước Quốc tế về an toàn Con – te – nơ 1972
Công ước  về ngăn ngừa ô nhiễm hàng hải do xả chất thải và chất khác 1972
Công ước Quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu 1973 (sửa đổi 1978 phụ lục I và II)
Công ước  Athen về vận chuyển hành khách và hành lý bằng đường biển 1974 sửa đổi 1990
Công ước Quốc tế về an toàn sinh mạng người trên biển 1974, Nghị định thư 1978, 1988 sửa đổi Công ước Quốc tế về an sinh mạng người trên biển 1974
Công ước  về luật biển của LHQ năm 1982: chính thức có hiệu lực từ 16/02/1982. Việt Nam phê chuẩn Công ước ngày 23/6/1994. CƯ gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, quy định toàn diện về các vùng biển và quy chế pháp lý của chung cũng như các vấn đề có liên quan của luật biển quốc tế
 

3.2. Tập quán quốc tế

Tập quán quốc tế là những quy tắc xử sự phổ biến được thừa nhận và áp dụng rộng rãi ở một khu vực nhất định (tập quán khu vực) hoặc trên phạm vi toàn cầu (tập quán toàn cầu)
Các điều kiện TMQT (INCOTERM) đã được phòng TMQT Paris( Paris ICC) tập hợp và ban hành từ năm 1963 (sửa đổi vào các năm 1953,1968,1976,1980,1990,2000,2010 và sắp tới là 2020)
Quy tắc và Thực hành thống nhất Tín dụng chứng từ ( The uniform customs and Practice for Docummentary Credits – viết tắt là UCP) là một bộ phận các quy định về việc ban hành đưa ra các quy tắc để thực hành thống nhất về thư tín dụng cũng được nhiều quốc ra trên thế giới áp dụng vào hoạt động thanh toán quốc tế
Tập quán ngân hàng tiêu chuẩn quốc tế dùng để kiểm tra chứng từ trong phương thức tín dụng chứng từ (ISBP) được Uỷ ban ngân hàng của Phòng TMQT thông qua 10/2002
INCOTERM giải thích những điều kiện TMQT, thể hiện tập quán giao dịch giữa các doanh nghiệp trong các hoạt động mua bán hàng hoá. Điều kiện INCOTERM chủ yếu mô tả các nghĩa vụ, chi phí và rủi ro trong quá trình hàng hoá được giao từ người bán đến người mua
INCOTERM có 11 điều kiện, được chia thành 2 nhóm:
Nhóm 1: Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải
Nhóm 2: Các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thuỷ nội địa
Tập quán TM: Là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động TM trên một số vùng, miễn hoặc là 1 lĩnh vực TM, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động TM (Luật TM 2005)
 

3.3. Nguyên tắc chung

Các nguyên tắc pháp luật chung được xem là một nguồn để lắp khoảng trống pháp lý khi một tranh chấp không có quy định điều ước hay tập quán điều chỉnh. Các nguyên tắc chung ở đây là các nguyên tắc pháp lý được cả pháp luật quốc gia và cả pháp luật quốc tế thừa nhận và được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia. VD nguyên tắc gây thiệt hại phải bồi thường, nguyên tắc không ai là quan toà chính trong vụ việc của mình… Trong thực tiễn, nguyên tắc pháp luật chung chỉ áp dụng sau ĐƯQT và TQQT với ý nghĩa giải thích hay làm sang tỏ nội dung của quy phạm LQT
 

3.4. Án lệ

Án lệ là một nguồn bổ trợ của luật pháp quốc tế. Án lệ có thể là các phán quyết, lệnh hay quyết định khác của cơ quan tài phán quốc tế hoặc cơ quan tài phán quốc gia. Khi luật quốc tế còn chưa phát triển, các án lệ quốc gia thường được sử dụng. Tuy nhiên, đến hiện nay hầy hết các án lệ được trích dẫn và sử dụng đều là án lệ của các cơ quan tài phán quốc tế.
 

3.5. Pháp luật quốc gia

Pháp luật trong nước là nguồn cơ bản của Luật hàng hải quốc tế, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu sau: Hiến pháp, Bộ Luật hàng hải Việt Nam, Bộ luật dân sự,…
Soft Law và các nghị quyết của các tổ chức quốc tế
Luật mềm (soft law) là thuật ngữ được sử dụng để chỉ các văn bản hay quy định mà bản chất không phải là luật nhưng có tầm quan trọng trong khuôn khổ phát triển luật pháp quốc tế. Đấy là các văn kiện không ràng buộc như khuyến nghị, hướng dẫn, quy tắc hay tiêu chuẩn được các quốc gia đưa ra hoặc các tổ chức quốc tế và các cơ quan của nó đưa ra. VD Nguyên tắc về con người và môi trường 1972…
Nghị quyết của các tổ chức quốc tế liên chỉnh phủ là các quyết định được tổ chức quốc tế đưa ra hoặc được các cơ quan của tổ chức đó đưa ra trong phạm vi quyền hạn của mình theo quy định của tổ chức quốc tế. Các quyết định này thể hiện ý chí của tổ chức quốc tế đó và quan trọng hơn là các quốc gia thành viên của tổ chức. Tổ chức quốc tế càng phổ quát thì ý chí chung đó càng mang tính đại diện cao trong cộng đồng quốc tế.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại,  gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!