1. Chưa thành niên gây tai nạn chết người xử lý như thế nào ?

Em trai cháu vừa bước qua tuổi 17 được 1 ngày, chiều hôm sau em cháu có mượn xe máy bố cháu rủ bạn đi chơi thì bị tai nạn (bị xe công te nơ đâm). Em cháu là người cầm lái, bạn em cháu tử vong tại chỗ, em cháu bị thương.
Vậy thì em cháu có bị pháp luật xử lý không ạ?
Người gửi : N.T.L

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua điện thoại, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Em bạn điều khiển phương tiện tham gia giao thông khi không đủ điều kiện (chủ đủ tuổi và chưa có bằng lái xe moto dung tích >50cc) hậu quả làm chết người. Do đó em bạn 17 tuổi, đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 2 điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017,.

>> Xem thêm:  Phân tích cơ sở pháp lý phán quyết của tòa án ?

2. Điều khiển xe máy bị tai nạn chết người ?

Xin chào Luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi mong được giải đáp. Chồng tôi tên T và một người bạn tên B, hai người rủ nhau đi học bằng lái xe ô tô được 6 tháng nay, ngày cuối cùng của khóa học hai người rủ nhau đi học, lúc đi anh B chở anh T lúc về anh T chở anh B. Xe máy của anh B giấy tờ lái xe đều mang tên anh B. Cả hai người đều có bằng lái xe máy. Trên đường về hai người đều không uống rượu. Khi đi trên đường cùng chiều có 1 người phụ nữ cùng đi song song, lên đỉnh dốc người phụ nữ vượt lên trước rồi xuống dốc nhưng chưa xuống hết dốc đang ở lưng chừng dốc thì người phụ nữ quay đầu xe rẽ trái đột ngột. Anh T điều khiển xe thắng gấp bị tai nạn hai người bất tỉnh vào bệnh viện thì anh B ngồi sau tử vong, anh T bị thương nhẹ. Tại hiện trường chỉ thấy xe của hai anh còn người phụ nữ kia không tìm thấy dấu vết gì, hai anh không biết người phụ nữ đó, công an cũng không tìm thấy giấu vết của người phụ nữ kia. Gia đình anh B bị tử vong không kiện cáo anh T.
Vậy xin hỏi luật sư anh T có bị kết tội gì không? và có phải truy cứu trách nhiệm hình sự không? Có phải nộp phạt gì không khung hình phạt với anh T như thế nào?
Trân trọng.

Điều khiển xe máy bị tai nạn chết người ?

Luật sư tư vấn luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sự sửa đổi bổ sung năm 2017

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Căn cứ vào thông tin mà bạn cung cấp, khi anh T và anh B đang trên đường về thì có 1 người phụ nữ cùng điều khiển xe máy đi song song, lên đỉnh dốc, người phụ nữ kia vượt lên trước rồi xuống dốc nhưng chưa xuống hết dốc đang ở lưng chừng dốc thì người phụ nữ quay đầu xe rẽ trái đột ngột. Anh T điều khiển xe thắng gấp bị tai nạn. Theo đó, việc xảy ra tai nạn dẫn đến người ngồi sau xe máy tức anh B chết là do người phụ nữ này không tuân thủ các quy định của pháp luật giao thông đường bộ về chuyển hướng xe theo quy định tại Điều 15 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 như: không có tín báo hiệu báo hướng rẽ, rẽ trên đường dốc,...

Như vậy, ở đây người có hành vi vi phạm các quy tắc điều khiển giao thông đường bộ là chị này chứ không phải anh T. Do đó, việc anh T điều khiển xe máy không có dấu hiệu khách quan là vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ cũng như không có yếu tố lỗi trong việc phát sinh cái chết của anh B nên không đủ dấu hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015 sử đổi bổ sung năm 2017.

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

3. Gây tai nạn trong tình trạng say rượu thì xử lý thế nào ?

Thưa luật sư, trước tết 2015, trên đường lái xe (xe tải) về, anh tôi gặp tai nạn (với một xe tải khác). Anh tôi bị thương phải phẫu thuật xương bả vai nhưng vì thời gian xảy ra tai nạn giáp tết nên phải chờ qua tết mới có thể làm phẫu thuật.

Khoảng hơn 20 ngày sau thời điểm xảy ra tai nạn, Cơ quan Công an có gọi người nhà lên lấy xe về. Tuy nhiên gia đình chúng tôi không được Cơ quan CA cho biết kết quả điều tra, cũng như hướng dẫn những thủ tục cần thiết lấy lại công bằng cho anh tôi mà chỉ bảo là " xem như chuyện xui rủi", "nó say quá (người gây tai nạn) nên không nhớ gì".... người gây tai nan lúc đó say (có hơi cồn). Bây giờ anh tôi từ một lao động chính, anh phải nằm nhà để dưỡng thương.

Rất mong luật sư tư vấn giúp trường hợp của anh tôi, gia đình chúng tôi được quyền biết kết quả điều tra không? Chúng tôi phải làm những thủ tục gì để lấy lại công bằng cho anh tôi?

Gia đình chúng tôi xin cảm ơn ! Rất mong sớm nhận được hồi âm.

Người gửi: Minh Thi Nguyen

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 15 Quyết định số 18/2007/QĐ-BCA thì cán bộ thụ lý điều tra vụ tai nạn giao thông đường bộ nghiên cứu hồ sơ tài liệu hoạt động điều tra ban đầu để viêt báo cáo kết quả điều tra và đề xuất việc giải quyết vụ tai nạn với chỉ huy trực tiếp của mình. Chỉ huy đơn đơn vị sau khi báo cáo và đề xuất của cán bộ thụ lý điều tra, nghiên cứu hồ sơ, đánh giá chứng cứ...vụ tai nạn, nếu thấy có dấu hiệu tội phạm thì có thể khởi tố vụ án hình sự, nếu không thì xử lý vi phạm hành chính.

Theo Điều 17 của Quyết định này, các bên liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ đươc đến trụ sở đơn vị để thông báo kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và xác định lỗi của những người có liên quan trong vụ tai nạn, hình thức giải quyết.

Như vậy, nếu cơ quan công an không khởi tố vụ án hình sự vụ việc của anh trai bạn thì vụ việc đó phải bị xử lý vi phạm hành chính và gia đình bạn hoàn toàn có quyền được biết kết quả điều tra, kết luận nguyên nhân của vụ tai nạn và việc xác định lỗi của những người có liên quan.

Trong trường hợp gia đình bạn có mong muốn khởi tố về hình sự, bạn có thể tố giác với cơ quan có thẩm quyền như Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan công an theo Điều 144 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 để khi đó, người gây thiệt hại có thể sẽ chịu trách nhiệm hình sự là phạt tù, đồng thời phải bồi thường chi phí hợp lý cho gia đình bạn.

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.

2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.

3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.

4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.

5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?

4. Không vi phạm luật giao thông gây tai nạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Thưa luật Minh Khuê, tôi xin được tư vấn sự việc sau: Em tôi đi xe có tông vào 1 người tuy nhiên lúc đó em tôi chạy xe không vi phạm luật giao thông đường bộ, chạy xe tôc độ khoảng 40 đến 50km/h trên đường quốc lộ không quá tốc độ quy định, không có uống rượu bia, đang chạy trên đường em tôi thấy có người băng qua đường hướng từ bên phải sảng trái khoảng cách khoảng 20m nên em tôi giảm tốc độ và chạy khoảng 40 đến 50km/h. Không ngờ người qua đường đi được nửa đoạn đường không qua luôn mà bổng dưng quay mặt đi ngược lại nên em tôi tránh về phía bên trái và vẹt tay cầm vào hông người đi bộ và đầu em tôi đập vào đầu người đi bộ làm người đi bộ té ngang đập đầu xuống đường, em tôi cũng bị thương ngay trán.
Người nhà của người đi bộ đưa em tôi và người đi bộ vào bệnh viện, và người đi bộ chết trong bệnh viện, qua khám nghiệm tử thi thì do người đi bộ bị ngã đập đầu xuống đường vỡ sọ mà chết. Xin hỏi luật sư, em tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

.Gây tai nạn trong tình trạng say rượu thì xử lý thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến,gọi: 1900.6162

Trả lời

Hành vi gây thiệt hại cho tính mạng của người khác do người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 như sau

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Theo như thông tin bạn cung cấp thì khi điều khiển phương tiện giao thông em bạn đã không vi phạm quy định về an toàn giao thông đồng thời việc điều khiển phương tiện giao thông cũng không phải nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cái chết nên hành vi của em bạn không đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điều này. Trong sự việc lần này, em bạn hoàn toàn không cố ý gây ra cái chết của nạn nhân tuy nhiên, hành vi vô ý gây chết người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 128 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, như sau:

Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.

Ngoài ra Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về trường hợp vô ý phạm tội tại Điều 11, như sau:

Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó.

Tức là khi nhìn thấy người đi bộ qua đường, em bạn có thể thấy trước được hành vi tiếp tục đi của mình có thể gây ra tai nạn nhưng cho rằng tai nạn không thể xảy ra. Đây được coi là lỗi vô ý phạm tội và em bạn có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên theo dữ kiện bạn cung cấp thì khi đi trên đường người đi bộ đột nhiên quay lại, đây có thể được coi là sự kiện bất ngờ (cần xác định khả năng có thể ứng biến của người điều khiển phương tiện khi thuộc vào hoàn cảnh đó, em bạn không thể biết được người đi bộ sẽ quay lại và không buộc phải thấy trước hậu quả của việc tiếp tục đi tiếp là sẽ gây tai nạn), khi đó em bạn sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 20 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Điều 20. Sự kiện bất ngờ

Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Hỏi về quyền và nghĩa vụ của cảnh sát giao thông ? Trách nhiệm hình sự khi gây tai nạn giao thông

5. Lái xe gây tai nạn chết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Xin chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi xin được giải đáp như sau: Người chưa đủ 18 tuổi, chưa có giấy phép lái xe mà lái xe gây tai nạn chết người thì bị xử lý như thế nào? Và người giao xe bị xử như thế nào? Và có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?
Em xin cám ơn!

Lái xe gây tai nạn chết người có bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Trách nhiệm của chủ sử hữu phương tiện đã gây tai nạn

Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

Điều 601. Bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra

1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại.

Như vậy, theo quy định trên thì trong trường hợp này chủ sở hữu phương tiện đã gây tai nạn cũng có trách nhiệm phải liên đới bồi thường thiệt hại vì người này cũng có lỗi trong việc đã để nguồn nguy hiểm cao độ bị sử dụng trái pháp luật.

2. Truy cứu trách nhiệm hình sự do gây tai nạn chết người

Điều 12 Bộ luật hình sự nhăm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự

1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.

2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:

a) Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);

b) Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

c) Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);

d) Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);

đ) Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);

e) Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).

Điều 220 BLHS năm cũng quy định về việc điều khiển phương tiện giao thông:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng chất ma túy hoặc các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng;

c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn;

d) Không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông;

đ) Làm chết 02 người;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

g) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

h) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

5. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe hoặc tài sản của người khác nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm.

6. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Trong trường hợp này, vì người điều khiển phương tiện giao thông đã gây tai nạn dẫn đến chết người do đó người này sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo đúng quy định của pháp luật nếu như người này đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 BLHS năm 2015.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng!

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Trình tự giải quyết tai nạn, va chạm giao thông được thực hiện thế nào ?