1. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tổng thống

Một trong những sáng tạo độc đáo nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787 chính là sự thiết lập một chính quyền hành pháp mạnh mẽ. Theo quy định tại Điều 2 của Hiến pháp Tổng thống vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người chính phủ. Tổng thống do nhân dân bầu ra với nhiệm kỳ 4 năm và không được bầu quá hai nhiệm kỳ.Tổng thống có quyền thành lập chính phủ, bổ nhiệm và bãi nhiệm các bộ trưởng, các bộ trưởng chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống chứ không chịu trách nhiệm trước Nghị viện. Do được nhân dân bầu ra (chứ không phải do Quốc hội bầu ra) nên Tổng thống hoạt động độc lập với Quốc hội, không chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Quốc hội không có quyền giải tán chính phủ. Tổng thống không có quyên giải tán Quốc hội nhưng có quyền phủ quyết các dự luật do hai viện của Quốc hội đã thông qua. Quyền này của Tổng thống gọi là quyền VETO. Khi bị Tổng thống phủ quyết quốc hội phải thảo luận lại lần thứ 2. Trong lần này dự án luật chỉ có thể thành luật nếu được ít nhất là 2/3 số Nghị sĩ của hai viện bỏ phiếu thuận. Kinh nghiệm thực tế cho thây 95% các dự luật bị Tổng thống phủ quyết thì không thể trở thành luật được. Quyền phủ quyết theo quy định của Hiến pháp mang tính chất tương đối vì Quốc hội có thể khắc phục được nếu sau khi thảo luận lần thứ hai số phiếu thuận của hai viện đạt từ 2/3 trở lên. Tuy nhiên trong thực tế nhiều khi quyền phủ quyết lại trở thành quyền tuyệt đối do việc Tổng thống áp dụng quyền phủ quyết bỏ túi (Pocket Veto). Nếu dự án luật được hai viện thông qua vào mười ngày cuối của kỳ họp Quốc hội thì sự phủ quyết của Tổng thống sẽ trở thành tuyệt đối. Điều này được lý giải một cách đơn giản bởi lẽ Tổng thống có thời hạn mười ngày để xem xét dự luật đã được Quốc hội thông qua để phê duyệt hay là phủ quyết. Trường hợp phủ quyết thì Tổng thống đợi đến ngày cuối của thời hạn 10 ngày mới bày tỏ ý kiến của mình, khi đó Quốc hội đã kết thúc kỳ họp của mình và phải đợi đến kỳ họp sau vấn đề mới được đưa ra xem xét lại từ đầu. Như vậy, mặc dù được xây dựng theo nguyên tắc phân chia qúyền lực Tổng thôhg vẫn có thể can thiệp vào hoạt động lập pháp của quốc hội.

Thực hiện chức năng đại diện của nguyên thủ quốc gia, thay mặt quốc gia về đối nội và đối ngoại, Tổng thống Hoa Kỳ nhân danh Liên bang ký kết các điều ước quốc tế, tiếp nhận đại sứ, sứ thần nước ngoài, tiếp đón các chính khách và các nhà ngoại giao nước ngoài. Với sự đồng ý của Thượng nghị viện, Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán Tòa án tối cao, các thẩm phán toà án liên bang, các viên chức cao cấp trong bộ máy hành pháp, các tướng lĩnh quân đội, các đại sứ, tổng lãnh sự của Hoa Kỳ ở nước ngoài.

Tổng thống Hoa Kỳ còn là Tổng tư lệnh lục quân, hải quân hiệp chủng quốc và dân quân của các tiểu bang khi dân quân của các tiểu bang được triệu tập để phục vụ Hiệp chủng quốc. Tổng thống có quyền hoãn thi hành án và ân xá những tội chống Hợp chủng quốc ngoại trừ những trường hợp xét xử theo thủ tục đàn hạch (Impeachment). Tổng thống cũng có quyền đòi hỏi các viên chức quan trọng trong chính quyền hành pháp trình bày bằng văn bản các vâh đề có liên quan đến nhiệm vụ của họ. Ngoài ra Tổng thống thỉnh thoảng gửi thông điệp cho Quốc hội biết về tình trạng của Liên bang và đề nghị để Quốc hội xem xét những biện pháp mà Tổng thống xét thấy cần thiết và thích hợp. Tổng thống có quyền trong những trường hợp bất thường triệu tập cả haị viện hoặc một trong hai viện; trong trường hợp hai viện bất đồng ý kiến về việc trì hoãn khóa họp, Tổng thống có quyền trì hoãn khóa họp của quốc hội trong thời gian mà Tổng thống cho thích hợp.

Mặc dù có quyền hành rất lớn, Tổng thống Hoa Kỳ không phải là người đứng ngoài vòng kiểm soát của pháp luật. Theo khoản 4, Điều 2 của Hiến pháp Hoa Kỳ, Tổng thống, Phó Tổng thống và các nhân viên của chính quyền Hợp chủng quốc sẽ bị cách chức hoặc bị truy tố trước pháp luật theo thủ tục đàn hạch nếu vi phạm công quyền, nhận hối lộ hoặc phạm những trọng tội khác.

Theo quy định tại mục 6, khoản 1 Điều 2 của Hiến pháp Tổng thống có quyền hưởng theo kỳ hạn nhất định, một khoản lương không tăng và cũng không giảm trong suốt nhiệm kỳ của mình. Ngoài khoản lương đó Tổng thống không có quyền nhận bất kỳ một khoản tiền lương nào khác của Liên bang hoặc của các bang. So với nhiều nước trên thế giới, lương của Tổng thống Hoa Kỳ rất cao. Hiện nay lương của Tổng thống Hoa Kỳ là 200.000 đô la/năm. Ngoài ra Tổng thống còn được sử dụng một khoản tiền khác là 170.000 đô la/năm để tiếp khách, chi phí cho các chuyến đi lại và phát biểu trước công chúng.

2. Mối quan hệ giữa Tổng thống và Chính phủ

Theo quy định của Hiến pháp năm 1787, Tổng thống là người đứng đầu cơ quan hành pháp. Tuy nhiên, trong Hiến pháp không có điều nào nói về Chính phủ về Nội các. Hiến pháp chỉ quy định tại Điều 2, mục 2: "người chịu trách nhiệm chính của các bộ do Tổng thống bổ nhiệm với sự đổng ý của Thượng nghị viện".

Chính phủ chỉ tồn tại như là cơ quan cố vấn cho Tổng thống. Chính phủ không chịu trách nhiệm tập thể trước quốc hội. Chính phủ không tồn tại một cách độc lập bên cạnh Tổng thống, mà tồn tại theo ý chí của Tổng thống. Tổng thống độc lập trong các quyết định của mình. Người ta thường viện dẫn câu nói rất khôi hài của Tổng thống Lincoln sau khi đảo một vòng quanh bàn hội nghị các bộ trưởng: "bảy phiếu thuận, một phiếu chống, phiếu chống thắng" Hội đồng bộ trưởng ít khi nhóm họp, Tổng thống thường làm việc trực tiếp với các bộ trưởng Hội đồng bộ trưởng thường chỉ nhóm họp vào thời kỳ đầu và cuối của nhiệm kỳ Tổng thống, không có biên bản kỳ họp, không có báo cáo thường kỳ.

Đến năm 1991, chính phủ Hoa Kỳ có tất cả 15 bộ. Sau đây là danh sách các bộ xếp theo thứ tự thời gian ra đời:

  • Bộ Ngoại giao (là bộ ra đời đầu tiên vào năm 1789);
  • Bộ Ngân khố (1789);
  • Bộ Quốc phòng (1789);
  • Bộ Tư pháp (1870); trước đó vào năm 1789 cũng đã có một'bộ trưởng phụ trách công tác tư pháp nhưng là bộ trưởng không bộ;
  • Bô Nội vụ (1849);
  • Bộ Nông nghiệp (1862);
  • Bộ Thương mại (1903);
  • Bộ Lao động (1913);
  • Bộ Y tế và công tác nhân đạo (1953);
  • Bộ nhà ở và phát triển đô thị (1965);
  • Bộ Giao thông (1966);
  • Bộ Năng lượng (1977);
  • Bộ Giáo dục (1979);
  • Bộ Cựu chiến binh (1988);
  • Bộ Môi trường (1990).

Trong quá trình phát triển của Chính phủ một số bộ đã bị giải thể. Ví dụ, trước đây ở Hoa Kỳ có Bộ Bưu điện, đến năm 1971, bộ này bị giải thể và chuyển thành ủy ban công tác bưu điện.

Thông thường, Tổng thống Hoa Kỳ coi các Bộ trưởng là người giúp việc của mình, vì vậy các bộ trưởng không phải là một nhà chính trị độc lập. Tuy nhiên, Tổng thống thường dành một số ghế Bộ trưởng không quan trọng lắm cho đại biểu của Đảng đối lập để chứng tỏ rằng Tổng thống là người đứng trên các Đảng phái.

3. Văn phòng Tổng thống

Văn phòng Tổng thống Hoa Kỳ không hề giống Văn phòng Tổng thống của các nhà nước tư sản khác, nó gần như là một chính phủ thứ hai. Văn phòng Tổng thống gồm hai bộ phận: Văn phòng nhà trắng và văn phòng hành chính của Tổng thống.

3.1 Văn phòng Nhà trắng

Vào năm 1901, văn phòng Nhà trắng chỉ có 1 thư ký, 2 trợ lý thư ký, 2 thư ký hành chính, 4 thư ký tạp vụ và một vài thừa phát lại, nhân viên bảo vệ và đưa thư.

Ngày nay, văn phòng Nhà trắng có hơn 650 người, chủ yếu là các loại cố vấn trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, luật pháp, ngoại giạo, quân sự.

3.2 Văn phòng hành chính của Tổng thống

Văn phòng này do Tổng thống Franklin Roosevelt thành lập năm 1939 bao gồm 12 bộ phận chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng thống. Sau đây là một số bộ phận quan trọng nhất:

  • Văn phòng quản trị và tài chính:

Đây là văn phòng quan trọng nhất, có đến hơn 600 nhân viên. Nhiệm vụ của nó là lập và phân phối ngân sách liên bang, chăm lo chức năng, quản lý và điều phối nền hành chính liên bang.

  • Hội đồng cố vấn kinh tế:

Thành lập năm 1946, bao gồm 3 cố vấn kinh tế có nhiệm vụ thông tin và tư vấn cho Tổng thống về tình hình kinh tế và chuẩn bị các báo cáo kinh tế cho Tổng thống trình trước Quốc hội.

  • Hội đồng an ninh quốc gia:

Thành lập năm 1947 là cơ quan giữ vai trò quan trọng trong việc giúp Tổng thống hoạch định đường lối và chính sách đối ngoại, quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia. Hội đồng an ninh quốc gia bao gồm Tổng thống, Phó Tổng thống, Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tư lệnh các binh chủng và giám đốc cơ quan tình báo trung ương (CIA). Ngoài ra, Tổng thống có thể mời thêm một số nhân vật tham dự mà ông thấy cần thiết.

  • Cơ quan tình báo trung ương (CIA):

Thành lập năm 1947 là tổ chức thừa kế của văn phòng nghiên cứu chiến lược. Giám đốc CIA là một trong những nhân vật có uy tín với Tổng thống. Mặc dù ngân sách CIA được giữ bí mật nhưng vào năm 1991 người ta ước tính khoảng hơn 3,5 tỷ đô la và có khoảng 18.000 nhân viên và cộng tác viên.

  • Văn phòng đại diện thương mại Hoa Kỳ:

Thành lập năm 1962, có nhiệm vụ xúc tiến các đàm phán thương mại quốc tế.

Xem xét các thiết chế trên đây của văn phòng Tổng thống Hoa Kỳ, chúng ta thấy chúng không giống văn phòng của các nguyên thủ quốc gia của các nước Cộng hòa nghị viện như Italia, Liên bang Đức, của những nước cộng hòa lưỡng tính như Pháp và cũng không giống văn phòng Hoàng đế ở các nước quân chủ lập hiến. Văn phòng Tổng thống Hoa Kỳ là sự kết hợp, độc đáo của hai loại: Văn phòng Chính phủ và văn phòng Nguyên thủ quốc gia. Điều này được lý giải bởi lẽ đây là cơ quan giúp việc, cơ quan cố vấn và tham mưu cho một người hòa quyện trong mình hai thứ quyền lực quan trọng nhất: quyền lực của Nguyên thủ quốc gia và quyền lực của Thủ tưóng Chính phủ.

CƠ SỞ PHÁP LÝ

Bản tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776

Hiến pháp Hoa Kỳ năm 1787

Hiến pháp nước Cộng hòa Ba Lan 1997

Hiến pháp Liên bang Nga năm 1993

Hiến pháp Italia 1947

Hiến pháp Nhật Bản 1946

hiến pháp cộng hòa Xéc năm 1992

Đạo luật Liên bang Áo năm 1970

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê