1. Cách chuyển di sản thừa kế cho một người ?

Thưa Luật sư! Gia đình tôi có 4 anh chị em, ba cũng mất từ lâu. Mẹ tôi đứng tên chủ quyền nhà ở. Mẹ tôi cũng mới mất cuối năm 2015. Trước khi mất mẹ không để lại di chúc. Căn nhà hiện tại chúng tôi đồng ý muốn để lại cho anh trai cả. Nhưng anh trai út bị khuyết tật từ khi sinh ra (bị chất độc màu da cam và nhà nước có hỗ trợ tiền hàng tháng).
Anh không còn khả năng nhận thức trí tuệ từ nhỏ, phải có người chăm sóc hàng ngày. Theo chúng tôi được biết về pháp luật anh út vẫn có quyền với căn nhà do mẹ không để lại di chúc cho anh cả. Nhưng anh út không có khả năng nhận thức và không ký được các giấy tờ liên quan đến pháp luật. Luật sư có thể hướng dẫn cách nào chuyển tài sản cho anh cả trong trường hợp này? Chúng tôi nghe nói phải ra tòa nhưng chúng tôi không muốn phải ra tòa phân xử, tôi (độc thân) và chị gái (đã lập gia đình) đều đồng ý ký giấy cho anh trai cả nhưng chỉ còn vướng anh út ?
Mong luật sư tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162.

Trả lời:

Theo như bạn trình bày, người anh út không có khả năng nhận thức, do đó, gia đình bạn có thể yêu cầu Tòa án nhân dân quận, huyện tuyên bố anh út của bạn mất năng lực hành vi dân sự. Ðiều 22 Bộ luật dân sự 2005 quy định:

"Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định”.

Điều 62. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

1. Trong trường hợp vợ mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ.

2. Trong trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo là người giám hộ.

3. Trong trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Căn cứ vào các quy định trên, Tòa án sẽ đưa ra quyết định tuyên bố anh út bạn mất năng lực hành vi dân sự và trong trường hợp này một trong 3 anh em các bạn sẽ là người giám hộ cho người anh út đó. Để người giám hộ tiến hành các giao dịch dân sự một cách hợp pháp đối với tài sản của người được giám hộ thì cần phải có người giám sát người giám hộ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Bộ luật Dân sự 2005 thì “người thân thích của người được giám hộ có trách nhiệm cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ….Người thân thích của người được giám hộ là vợ, chồng, cha, mẹ, con của người được giám hộ…”. Nghĩa là, trong trường hợp này gia đình bạn phải cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ, người giám sát việc giám hộ phải là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Trong văn bản đồng ý chuyển quyền sử dụng mảnh đất, ngoài việc cần có sự đồng ý của các anh em, người giám hộ của anh út mà cần có chữ ký của người giam sát việc giám hộ.

Tóm lại, để sang tên sổ đỏ trong trường hợp trên thì bạn và các anh chị em phải thực hiện những công việc sau đây:

- Thứ nhất, nộp đơn lên Tòa án yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố anh bạn bị mất năng lực hành vi dân sự.

- Thứ hai, bạn cần làm thủ tục đăng ký giám hộ bằng cách làm đơn yêu cầu đăng ký việc giám hộ đương nhiên (theo mẫu) nộp tại UBND xã, phường, thị trấn. Khi làm thủ tục cần nộp các tài liệu sau:

+ Giấy khai sinh của người giám hộ;

+ Sổ hộ khẩu gia đình của người giám hộ;

+ Chứng minh nhân dân của ngườigiám hộ;

- Thứ ba, gia đình bạn phải cử người đại diện làm người giám sát việc giám hộ.

Sau khi thực hiện các công việc trên, gia đình bạn có thể thực hiện sang tên sổ đỏ cho anh cả bạn.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tư vấn soạn thảo di chúc và Dịch vụ làm chứng, chứng thực di chúc

2. Di sản thừa kế được phân chia như thế nào ?

Xin kính chào Luật Minh Khuê, tôi xin hỏi một việc sau: Anh A kết hôn với chị B, có tài sản chung là 400 triệu, sau đó A lại sống với C như vợ chồng và có tài sản chung là 400 triệu. Cho tôi hỏi khi A chết thì di sản của A được tính như thế nào ?
Cảm ơn văn phòng luật sư rất nhiều!

>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Dựa trên điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về tài sản chung, A kết hôn với B tài sản chung là 400 thì 1 nửa tài sản này là tài sản của A.

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng
1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung."
Sau đó A sống chung với C như vợ chồng và có tài sản chung là 400 triệu, A có một phần quyền trong tài sản này theo thỏa thuận của hai bên, nếu không có thỏa thuận thì sẽ được chia đôi.
Khi A mất đi không để lại di chúc thì tài sản của A sẽ được chia đều cho những người ở hàng thừa kế thứ nhất.
Tài sản của A để lại là: 400/2 + 400/2 = 400 triệu
Điều 676 Luật dân sự 2005 quy định rõ

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Tư vấn thừa kế đất đai khi chủ sở hữu không để lại di chúc ?

>> Xem thêm:  Hướng dẫn thủ tục lập di chúc phân chia tài sản cho con cháu ? Di chúc viết tay có hợp pháp không ?

3. Quyền hưởng di sản thừa kế theo luật ?

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn bộ đội ngũ cán bộ của Cty Luật Minh Khuê đã và đang cung cấp một dịch vụ Tư Vấn Luật qua Email hoàn toàn miễn phí - vô cùng hữu ích cho cộng đồng. Tôi mong quý Cty sẽ ngày càng phát triển và thành đạt. Nội dung vấn đề của tôi như sau:

Bà Nội có 8 người con, cha tôi là người con thứ 8, người con thứ 5 (cô 5) không có gia đình và sớm gắn bó với một người chị em bạn (tôi gọi là cô 8, hoàn toàn không có quan hệ huyết thống) và cùng chung sống với gia đình tôi từ khi tôi chưa lọt lòng, ngôi nhà là do bà Nội để lại, những người con khác ai nấy đều có gia đình riêng. Lúc ban đầu (cách đây 26 năm), ngôi nhà đó chỉ là nơi hoang tàn, giấy chứng nhận sở hửu nhà vẫn trong tình trạng "vô chủ", cha mẹ tôi, cô 5, cô 8 đều lao động vất vả để gầy dựng từ con số không, và mọi giấy giờ sở hửu bất động sản đều đứng tên cô 5 (do cô là người được gia đình tôn trọng nhất). Khi tôi và em gái tôi sinh ra, mặc dù sống chung với bố mẹ, nhưng mọi sinh hoạt và học hành do cô 5 tôi là người chu cấp chính. Cách đây nữa năm, cô 5 đột quỵ qua đời, không có di chúc để lại, nhưng bà con cô bác anh chị em trong dòng họ, mặc nhiên ai cũng khẳng định nó sẽ thuộc quyền thừa hưởng của tôi, vì tôi luôn là người được cô 5 thương yêu nhất. Tuy nhiên tôi muốn làm rõ vấn đề quyền thừa hưởng, vì tôi biết trong dòng họ rất có nhiều người dòm ngó, tôi không muốn sơ xuất trong khâu chuẩn bị. Hiện tài sản cô để lại gồm nhà chung (đứng tên cô, hộ khẩu có thêm cha mẹ, 2 anh em tôi), tiền mặt, vàng. Nhưng ngôi nhà chung là tài sản tôi lo nhất, vì sớm muộn, dự án quy hoạch khu đô thị mới sẽ đến và tôi sợ lại một cuộc nội chiến để phân chia tài sản. Tôi muốn tham khảo quý Luật Gia một số nghi vấn như sau: - Tôi (cháu ruột, sống chung từ nhỏ đến lớn) có quyền thừa hưởng hợp pháp giá trị ngôi nhà hay không ?

- Những anh chị em họ, cô bác khác có quyền đòi thừa hưởng căn nhà chung đó hay không?

- Làm thế nào để cha tôi (người em ruột cũng là người đồng cam cộng khổ với chị mình), là người thừa kế hoàn toàn hợp pháp căn nhà đó ?

Quyền hưởng di sản thừa kế ?

Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vì người để lại di sản thừa kế không có di chúc nên việc phân chia di sản thửa kế sẽ theo pháp luật. Theo quy định của pháp luật thì những người được quyền hưởng di sản thừa kế theo Bộ luật dân sự 2005 như:

"Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Vậy ngôi nhà của cô bạn là di sản thừa kế khi cô bạn qua đời (cô bạn qua đời không có di chúc). Nếu ông bà nội của bạn mất, cô bạn không có chồng, con ruột, con nuôi thì ở hàng thừa kế thứ nhất không còn ai. Cho nên, những người thừa kế ở hàng thứ hai sẽ được hưởng trong đó sẽ có bố của bạn và những người là anh chị em ruột với cô của bạn đều được hưởng. Những người ở cùng một hàng thừa kế sẽ được hưởng phần bằng nhau. Bạn chỉ được hưởng khi không còn ai ở hàng thứa kế thứ hai.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Người không biết chữ muốn để lại di chúc thì phải làm thế nào ? Di chúc có phải công chứng ?

4. Quyền được hưởng di sản thừa kế?

Thưa Luật sư, mẹ tôi có hai anh em (bố tôi mất đã lâu khi anh em tôi còn nhỏ). Bà qua đời năm 2010 và không để lại giấy tờ di chúc gì. Về sau này khi tôi nói chuyện với em tôi việc tài sản của cha mẹ để lại. Bất ngờ em tôi đưa ra một văn bản nội dung mẹ tôi cho tặng toàn bộ di sản ruộng, đất, nhà cho em trai tôi, lập vào năm 2009 có xác nhận chứng thực của UBND xã và điểm chỉ của mẹ tôi (mẹ tôi không biết chữ, văn bản này do em tôi lập) nhưng không có người làm chứng. Hiện số tài sản trên giấy tờ vẫn đứng tên mẹ tôi. Em trai tôi cho rằng văn bản này không phải di chúc mà là văn bản trao tặng nên em tôi có quyền sở hữu toàn bộ số tài sản của mẹ tôi để lại từ năm 2009.
Theo tôi tìm hiểu thì khi để lại di chúc mà không biết chữ phải có hai người làm chứng xác nhận điểm chỉ và nội dung di chúc, nhưng tôi không tìm thấy yêu cầu này trong phần trao tặng tài sản khi người tặng không biết chữ. Vậy xin luật sư giải đáp giúp tôi, tôi có quyền được hưởng phần di sản của mẹ để lại không ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn dân sự trực tuyến, Gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như thông tin chị đưa ra để tư vấn, thì chúng tôi chưa thể xác định rõ được văn bản mẹ chị lập trước khi mất là di chúc hay hợp đồng tặng, cho tài sản. Nên chúng tôi phân tích theo hai hướng sau:

Thứ nhất: Văn bản mẹ chị viết trước khi chết là di chúc

Vì mẹ chị là người không biết viết nên việc lập di chúc phải có người làm chứng theo quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự số 33/2005/QH11:

"Điều 656. Di chúc bằng văn bản có người làm chứng

Trong trường hợp người lập di chúc không thể tự mình viết bản di chúc thì có thể nhờ người khác viết, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

Việc lập di chúc phải tuân theo quy định tại Điều 653 và Điều 654 của Bộ luật này."

Vậy, di chúc mẹ bạn để lại không có người làm chứng là trái với quy định tại Điều 656 Bộ luật dân sự, nên đây là di chúc không hợp pháp. Di chúc không hợp pháp thì di sản thừa kế được phân chia theo pháp luật.

"Điều 675. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối quyền nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối quyền nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn vào thời điểm mở thừa kế."

Vậy khi chia di sản thừa kế theo pháp luật thì chị và em trai của chị được hưởng di sản thừa kế là như nhau mỗi người được 1/2 di sản thừa kế.

Thứ hai: Văn bản mẹ chị viết trước khi chết là hợp đồng tặng cho tài sản.

Với những văn bản về tặng cho quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải bắt buộc phải công chứng hoặc chúng thực theo quy định tại khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Vậy, nếu văn bản tặng cho này được chứng thực tại UBND xã thì văn bản được coi là hợp pháp, và chị chỉ được hưởng những di sản mà mẹ chị để lại trừ những tài sản mà mẹ chị cho em trai chị.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thủ tục nhận thừa kế quyền sử dụng đất như thế nào ? Thời hiệu khởi kiện thừa kế là bao lâu ?

5. Những người không được hưởng di sản thừa kế ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Pháp luật hiện nay có quy định nào về việc tước quyền thừa kế đối với con cái do ngược đãi, hành hạ cha, mẹ không? Người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản nhưng bị phát hiện kịp thời có được hưởng di sản thừa kế không?
(Ngô Thị Mỹ, Thái Nguyên).

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự, những người sau đây không được quyền hưởng di sản thừa kế:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Theo quy định trên, con cái có hành vi ngược đãi, hành hạ cha, mẹ hoặc người lập di chúc giả mạo để chiếm đoạt di sản sẽ không được quyền hưởng di sản thừa kế. Tuy nhiên, pháp luật cũng có quy định những người thuộc vào một trong những trường hợp nói trên vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc. Như vậy, về nguyên tắc, việc tước quyền hưởng di sản thừa kế của những người nói trên chỉ thực hiện trong trường hợp thừa kế theo pháp luật.

Nếu di chúc cho họ được hưởng di sản bị phát hiện là giả mạo thì người giả mạo không được hưởng di sản thừa kế.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền thừa kế quyền sử dụng đất là gì ? Bản họp gia đình phân chia tài sản thừa kế có ý nghĩa gì ?