1. Quy định về việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật
Việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật được quy định theo Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015. Quy định này điều chỉnh các trường hợp cụ thể như sau:
- Người thừa kế chưa sinh ra: Nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra, một phần di sản phải được dành lại để đảm bảo rằng nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, họ sẽ được hưởng phần đó. Trong trường hợp người thừa kế chưa sinh ra chết trước khi được sinh ra, phần di sản được dành cho họ sẽ được chuyển cho các người thừa kế khác để hưởng.
- Phân chia di sản bằng hiện vật: Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng cách chia nhau các hiện vật. Nếu không thể chia đều di sản bằng hiện vật, những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá các hiện vật và người nhận từng món. Trường hợp không thể đạt được thỏa thuận, các hiện vật có thể được bán và số tiền thu được từ việc bán này sẽ được chia cho các người thừa kế.
Việc phân chia di sản thừa kế theo pháp luật nhằm đảm bảo sự công bằng và tuân thủ quy định của pháp luật. Đồng thời, việc thực hiện chia thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong những trường hợp sau đây, theo quy định tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:
- Thừa kế theo pháp luật:
+ Không có di chúc: Khi người có di sản đã mất không để lại bất kỳ di chúc nào.
+ Di chúc không hợp pháp: Khi di chúc bị coi là không hợp pháp vì không tuân thủ các quy định pháp luật về di chúc, ví dụ như không được lập theo quy trình, không đáp ứng các yêu cầu hợp lệ về hình thức và nội dung của một di chúc hợp pháp.
+ Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc: Khi những người được chỉ định trong di chúc làm người thừa kế chết trước hoặc đồng thời với người lập di chúc. Trong trường hợp này, cơ quan hoặc tổ chức được chỉ định trong di chúc nhưng không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế sẽ không được hưởng di sản theo di chúc.
+ Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc nhưng không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản: Khi những người được chỉ định trong di chúc làm người thừa kế không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản theo quy định pháp luật.
- Thừa kế theo pháp luật cũng áp dụng cho các phần di sản sau đây:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc: Khi di chúc không quy định rõ ràng về việc phân chia một phần của di sản.
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật: Khi một phần của di sản được di chúc không có hiệu lực pháp luật, phần đó sẽ được chia theo quy định của pháp luật.
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế: Trường hợp này xảy ra khi người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản, hoặc từ chối nhận di sản, hoặc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc. Nếu cơ quan hoặc tổ chức được chỉ định trong di chúc không còn tồn tại tại thời điểm mở thừa kế, phần di sản có liên quan sẽ được chia theo quy định của pháp luật.
Do đó, trong các trường hợp khi không có di chúc, di chúc không hợp pháp, những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc cùng thời điểm với người lập di chúc, hoặc những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản, chia thừa kế theo pháp luật sẽ được áp dụng.
2. Di sản thừa kế sẽ thuộc về ai khi người nhận thừa kế chết
2.1. Người nhận di sản thừa kế chết trước người để lại di sản thừa kế
Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 về người thừa kế theo pháp luật, thứ tự của những người thừa kế theo pháp luật được xác định như sau:
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
Theo quy định tại Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015 về thừa kế thế vị, trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, cháu của con đó sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống. Nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, thì chắt của cháu sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.
Do đó, trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản, con của người đó sẽ được hưởng di sản theo quy định về thừa kế thế vị, dựa trên phần di sản mà cha hoặc mẹ của con được hưởng nếu còn sống.
2.2. Người nhận di sản thừa kế chết sau người để lại di sản thừa kế
Theo quy định của pháp luật, người thừa kế có thể được xác định theo hai hình thức: thừa kế theo di chúc hoặc thừa kế theo quy định của pháp luật.
- Đối với người thừa kế theo di chúc, quy định tại Điều 613 của Bộ luật Dân sự 2015 đã chỉ rõ rằng người thừa kế phải là cá nhân và phải còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế, tuy nhiên, nếu người thừa kế không phải là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
- Đối với người thừa kế theo quy định của pháp luật, các quy định về thời điểm và địa điểm mở thừa kế được quy định tại Điều 611 của Bộ luật Dân sự 2015. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Nếu Tòa án tuyên bố một người là đã chết, thì thời điểm mở thừa kế được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế sẽ là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.
Việc người thừa kế chết sau người để lại di sản không ảnh hưởng đến khả năng hưởng di sản thừa kế của họ, miễn là họ không từ chối nhận di sản hoặc không rơi vào trường hợp không có quyền hưởng di sản thừa kế. Do đó, nếu người thừa kế đã qua đời sau khi người để lại di sản mở thừa kế, thì vẫn được coi là còn sống vào thời điểm mở thừa kế và vẫn có quyền hưởng di sản theo quy định pháp luật, trừ khi họ từ chối nhận di sản hoặc không đáp ứng các điều kiện để trở thành người thừa kế. Tuy nhiên, nếu người thừa kế đã chết trước khi người để lại di sản mở thừa kế, thì theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015, người thừa kế này sẽ không còn đủ điều kiện để trở thành người thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, nếu người thừa kế chết sau người để lại di sản không từ chối nhận di sản và đủ điều kiện để trở thành người thừa kế, thì quyền hưởng di sản của họ sẽ được xác định dựa trên quy định của di chúc hoặc theo quy định của pháp luật, tùy theo trường hợp cụ thể.
=> Việc người thừa kế chết sau người để lại di sản không ảnh hưởng đến quyền hưởng di sản thừa kế của họ, miễn là họ không từ chối nhận di sản và đáp ứng các điều kiện để trở thành người thừa kế theo quy định pháp luật.
3. Hạn chế phân chia di sản thừa kế khi nào?
Căn cứ vào Điều 661 Bộ luật Dân sự năm 2015, nội dung hạn chế phân chia di sản trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế được quy định như sau:
- Ý chí của người lập di chúc: Người lập di chúc có quyền quyết định việc phân chia di sản thừa kế. Theo ý chí của người lập di chúc, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định. Điều này có nghĩa là di sản sẽ không được chia cho đến khi hết thời hạn quy định trong di chúc. Trong thời gian đó, di sản sẽ được quản lý và duy trì trong tình trạng không phân chia.
- Thỏa thuận của tất cả những người thừa kế: Trong trường hợp tất cả các người thừa kế đồng ý, di sản cũng có thể bị hạn chế phân chia sau một thời hạn nhất định. Thỏa thuận này có thể được đưa ra trước hoặc sau khi người kế chết. Tất cả những người thừa kế cần đồng ý với quyết định này và thỏa thuận chung về việc không phân chia di sản trong một thời gian xác định.
Ngoài ra, quy định về trường hợp nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình, bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định phần di sản mà những người thừa kế được hưởng nhưng chưa được chia trong một thời hạn nhất định. Thời hạn này không quá 3 năm, tính từ thời điểm mở thừa kế. Sau khi hết thời hạn 3 năm, nếu bên còn sống chứng minh được việc chia di sản vẫn ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của gia đình, bên đó có quyền yêu cầu Tòa án gia hạn một lần nữa, nhưng không quá 3 năm nữa.
=> Di sản thừa kế sẽ bị hạn chế phân chia trong trường hợp theo ý chí của người lập di chúc hoặc theo thỏa thuận của tất cả những người thừa kế. Đồng thời, nếu việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của bên vợ hoặc chồng còn sống và gia đình, bên còn sống có quyền yêu cầu Tòa án xác định và gia hạn việc phân chia di sản trong một khoảng thời gian nhất định.
Quý khách hàng có nhu cầu thì tham khảo thêm nội dung bài viết sau của công ty Luật Minh Khuê: Phân chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật hiện nay
Công ty Luật Minh Khuê mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích. Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Xin trân trọng cảm ơn sự hợp tác của quý khách hàng!