- 1. Lao động nữ là gì?
- 2. Quy định pháp luật về chế độ làm việc với lao động nữ?
- 2.1. Thời gian làm việc, ngày của lao động nữ :
- 2.1. Ngày nghỉ phép trong năm đôi với lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại?
- 3. Chuyển lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại sang công việc khác?
- 4. Một số quy định khác liên quan đến người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
- 4.1. Quy định về đối tượng và chế độ người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
- 4.2. Quy định chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ khi tham gia lao động?
Căn cứ vào khoản 2 Điều 137 Bộ luật Lao động năm 2019, lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giò làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, so với Bộ luật Lao động năm 2012 (Điều 155), Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định nhiều nội dung có lợi hơn cho lao động nữ, không chỉ ưu tiên cho lao động nữ mang thai từ tháng thứ 07 trở lên mà bất kỳ lao động nữ nào thỏa mãn điều kiện nêu trên thì đều hưởng quyền ưu tiên (Bộ luật Lao động năm 2012 quy định lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi mang thai từ tháng thứ 07, được chuyển làm công việc nhẹ hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà vẫn hưởng đủ lương).
Luật Minh Khuê, phân tích và làm sáng tỏ quy định pháp luật hiện nay về vấn đề trên như sau:
1. Lao động nữ là gì?
Lao động nữ là người lao động thuộc giới nữ và khi tham gia quan hệ lao động có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người lao động, đồng thời, được pháp luật lao động dành cho những quy định áp dụng riêng. Nhà nước bảo đảm quyền làm việc của phụ nữ bình đẳng về mọi mặt với nam giới, có chính sách khuyến khích người sử dụng lao động tạo điều kiện để người lao động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng rộng rãi chế độ làm việc theo thời gian biểu linh hoạt, làm việc không chọn ngày, chọn tuần, giao việc làm tại nhà.
Theo Bảng thống kê tình hình lao động việc làm tính đến tháng 6 năm 2022 như sau: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 6 tháng đầu năm 2022 đạt 51,4 triệu người, cao hơn 0,4 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 19,1 triệu người, chiếm 37,2% lực lượng lao động; lực lượng lao động nữ đạt 24,0 triệu người, chiếm 46,8% lực lượng lao động của cả nước. Ngoài ra, thu nhập bình quân của lao động nữa tính đến tháng 6 năm 2022 đã tăng từ 5,5 triệu đồng lên mức 7,4 triệu đồng.
Hiện nay, Bộ Luật lao động năm 2019 có hiệu lực thi hành ngày 01/ 01/2020 quy định riêng tại Chương X để dành những quy định riêng đối với lao động nữ nhằm đảm bảo bình đẳng giới, đồng thời thúc đấy người lao động là nữ giới tham gia vào thị trường lao động ngày càng nhiều. Tuy nhiên, vì đặc điểm ở nữ giới về điều kiện thể chất không bằng nam giới, ngoài ra ở nữ giới còn có thiên chức mang thai và làm mẹ nên pháp luật có những quy định riêng đối với người lao động nữ phù hợp với điều kiện đặc biệt.
2. Quy định pháp luật về chế độ làm việc với lao động nữ?
2.1. Thời gian làm việc, ngày của lao động nữ :
Bộ Luật lao động năm 2019 quy định về giờ làm việc đối với người lao động tính theo giờ/ ngày. Như vậy, giờ lao động của lao động nữ tính theo giờ/ ngày được pháp luật điều chỉnh theo Điều 105 như sau:
- Thời giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần ;
- Người sử dụng lao động có quyền quy định thời giờ làm việc theo ngày hoặc tuần nhưng phải thông báo cho người lao động biết; trường hợp theo tuần thì thời giờ làm việc bình thường không quá 10 giờ trong 01 ngày và không quá 48 giờ trong 01 tuần. Bên cạnh đó, Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động thực hiện tuần làm việc 40 giờ đối với người lao động ;
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm bảo đảm giới hạn thời gian làm việc tiếp xúc với yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại đúng theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia và pháp luật có liên quan.
Như quy định trên, mọi đối tượng là người lao động làm việc cho người sử dụng lao động và được hưởng quyền và lợi ích từ công sức lao động của mình đều được pháp luật bảo hộ và có nghĩa vụ bình đẳng với nhau trong điều kiện lao động bình thường. Cụ thể đối với lao động nữ giờ làm việc bình thường không quá 08 giờ làm việc trong 01 ngày và không quá 48 giờ làm việc trong 01 tuần.
2.1. Ngày nghỉ phép trong năm đôi với lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại?
Trong mọi điều kiện lao động khách quan, người lao động nói chung và người lao động là nữ giới nói riêng sẽ được hưởng chế độ đãi ngộ về ngày nghỉ phép năm theo quy định tại Điều 113 - Bộ Luật lao động năm 2019 như sau:
- Người lao động làm việc đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động như sau:
- 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường ;
- 14 ngày làm việc đối với người lao động chưa thành niên, lao động là người khuyết tật, người làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ;
- 16 ngày làm việc đối với người làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm.
- Người lao động làm việc chưa đủ 12 tháng cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm theo tỷ lệ tương ứng với số tháng làm việc.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm quy định lịch nghỉ hằng năm sau khi tham khảo ý kiến của người lao động và phải thông báo trước cho người lao động biết. Người lao động có thể thỏa thuận với người sử dụng lao động để nghỉ hằng năm thành nhiều lần hoặc nghỉ gộp tối đa 03 năm một lần.
- Khi nghỉ hằng năm, nếu người lao động đi bằng các phương tiện đường bộ, đường sắt, đường thủy mà số ngày đi đường cả đi và về trên 02 ngày thì từ ngày thứ 03 trở đi được tính thêm thời gian đi đường ngoài ngày nghỉ hằng năm và chỉ được tính cho 01 lần nghỉ trong năm.
Trong trường hợp tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh làm việc và môi trường làm việc khác nhau mà người lao động được quy định về số ngày nghỉ phép năm là khác nhau. Đối với trường hợp lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm tùy theo độ tuổi sẽ được nghỉ từ 14 đến 16 ngày phép năm. Ngoài ra, nếu như lao động nữ không nghỉ phép năm thì người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận với nhau về trường hợp nghỉ phép gộp tối đa 03 năm một lần.
3. Chuyển lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại sang công việc khác?
Chào Luật sư Luật Minh Khuê ! Tôi là lao động nữ hiện đang tham gia thị trường lao động trong lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, bộ phận tôi đang làm được xem là công việc độc hại do phải tiếp xúc với môi trường có từ trường cao. Tôi có tìm hiểu về trường hợp lao động nữ làm việc trong môi trường độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai thì có được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ nhàng, an toàn hơn không ? Và tôi muốn tìm hiểu nếu chuyển sang môi trường khác thì tôi có bị mất đi quyền lợi so với công việc tại bộ phận cũ hay không?
Rất mong nhận được giải đáp sớm nhất của quý Luật sư cho trường hợp của tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trả lời:
Thị trường lao động Việt Nam ngày càng hoàn thiện và hướng tới việc khuyến khích, thúc đẩy lao động nữ tham gia sản xuất lao động phù hợp với nhu cầu và khả năng của mỗi người. Bộ Luật lao động năm 2019 cũng có những quy định riêng ưu tiên đối với lao động là nữ giới tham gia lao động trong điều kiện đang thực hiện thiên chức mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ như sau :
Căn cứ tại Điều 137: Bảo vệ thai sản - Luật này quy định :
- Người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp sau đây :
- Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo ;
- Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được người lao động đồng ý.
- Lao động nữ làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm nghề, công việc có ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì được người sử dụng lao động chuyển sang làm công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày mà không bị cắt giảm tiền lương và quyền, lợi ích cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, người lao động là nữ giới khi tham gia lao động mà làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm khi mang thai và có thông báo cho người sử dụng lao động biết thì người sử dụng lao động được biết và hai bên có thể thỏa thuận lựa chọn giữa một trong hai phương án: chuyển sang công việc nhẹ hơn, an toàn hơn hoặc chọn phương án giảm bớt 01 giờ làm việc hàng ngày cho đến khi con của bạn đủ 12 tháng tuổi.
- Với trường hợp chuyển sang công việc nhẹ nhàng, an toàn hơn: người lao động báo với người sử dụng lao động để người sử dụng lao động sắp xếp chuyển lao động nữ sang công việc nhẹ nhàng, an toàn hơn. Tuy nhiên, trong trường hợp này người lao động được hiểu là sẽ chuyển về công việc bình thường, không nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, vì vậy giờ làm việc vẫn áp dụng như thời gian làm việc bình thường là không quá 08 tiếng trong 01 ngày và không quá 48 tiếng trong 01 tuần làm việc.
- Với trường hợp giảm bớt 01 giờ làm việc: tương tự, người lao động báo với người sử dụng lao động, khi hai bên thỏa thuận người lao động vẫn tiếp tục làm công việc đó thì người sử dụng lao động phải sắp xếp để giảm bớt 01 giờ làm việc hằng ngày cho lao động nữ, ngoài ra mọi quyền, lợi ích cũng như tiền lương, thương của lao động nữ đó không bị cắt giảm cho đến hết thời gian nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi.
( thêm phần so sánh BLLĐ 2012- 2019 ở bài viết cũ)
Kết luận: Như vậy trong trường hợp của bạn, khi biết mình đang mang thai, bạn nên báo với người sử dụng lao động về trường hợp của bạn để hai bên thỏa thuận sắp xếp công việc phù hợp với sức khỏe của bạn và an toàn cho em bé.
4. Một số quy định khác liên quan đến người lao động làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
4.1. Quy định về đối tượng và chế độ người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm ?
Ngoài trường hợp quy định về lao động nữ làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trong thời gian mang thai và nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi như Luật Minh Khuê đã phân tích ở trên, Bộ Luật lao động năm 2019 cũng quy định các trường hợp đối tượng lao động khác trong trường hợp làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
- Tại Khoản 3 - Điều 149 quy định: Không được sử dụng người lao động cao tuổi làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người lao động cao tuổi, trừ trường hợp bảo đảm các điều kiện làm việc an toàn.
- Tại khoản 2- Điều 160 về các hành vi cấm: Cấm sử dụng người lao động là người khuyết tật làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành mà khôn có sự đồng ý của người khuyết tật sau khi đã được người sử dụng lao động cung cấp đầy đủ thông tin về công việc.
Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định về tuổi được nghỉ hưu đối với người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm như sau:
- Tại Khoản 3 - Điều 169 quy định: Tuổi nghỉ hưu đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn nhưng không quá 05 tuổi so theo quy định tại tuổi nghỉ hưu mà pháp luật quy định hiện nay.
- Tại Điểm b - Khoản 1 - Điều 54 quy định: Người lao động đủ điều kiện được hưởng lương hưu theo Khoản 3 - Điều 169 nêu trên và có đủ 15 năm làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành hoặc có đủ 15 năm làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn bao gồm cả thời gian làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên trước ngày 01 tháng 01 năm 2021.
Cùng với quy định về điều kiện hưởng lương hưu của người lao động làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thì Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 cũng hướng dẫn những chế độ mà đối tượng này được hưởng khi xảy ra trường hợp ốm đau :
- Tại Điểm b - Khoản 1 - Điều 26 quy định: Thời gian được hưởng chế độ ốm đau đối với người lao động làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Y tế ban hành hoặc làm việc ở nơi có phụ cập khu vực hệ số từ 07 trở lên thì được hưởng :
- 40 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội dưới 15 năm ( điều kiện làm việc ở môi trường bình thường là 30 ngày) ;
- 50 ngày nếu đã đóng bảo hiểm từ đủ 15 năm đến dưới 30 năm ( điều kiện làm việc ở môi trường bình thường là 40 ngày ) ;
- 70 ngày nếu đã đóng bảo hiểm xã hội từ 30 năm trở lên (điều kiện làm việc ở môi trường bình thường là 60 ngày) ;
- Bị bệnh thuộc danh mục bệnh nghề nghiệp do Bộ Y tế và Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành khi làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại ;
- Suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do bị bệnh bệnh nghề nghiệp.
4.2. Quy định chế độ đãi ngộ đối với lao động nữ khi tham gia lao động?
Người lao động là nữ giới được Bộ Luật lao động năm 2019 và Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 bảo hộ những nội dung sau đây :
- Thứ nhất, quyền không làm thêm giờ hoặc đi công tác xa khi mang thai và nuôi con nhỏ:
- Nếu lao động nữ đang mang thai từ tháng 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở những nơi đặc biệt như vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, hải đảo thì doanh nghiệp không được phép cử làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa; lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
- Trong đó, không chỉ quy định rõ về việc điều chuyển công tác mà pháp luật cũng quy định rõ: Lao động nữ làm công việc nặng nhọc khi đang mang thai ở tháng thứ 7 sẽ được điều chuyển làm công việc nhẹ nhàng hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc hàng ngày mà vẫn hưởng đủ lương.
- Trường hợp khi người lao động là nữ giới có vi phạm, phía sử dụng lao động có thể đưa ra hình thức kỷ luật. Nhưng không được xử lý kỷ luật với các đối tượng:
- Lao động nữ đang có thai ;
- Lao động nữ nghỉ thai sản ;
- Lao động nữ nuôi con dưới 12 tháng tuổi ;
- Hình thức kỷ luật khiển trách, cách chức hay sa thải đều vi phạm nguyên tắc xử lý kỷ luật theo đúng luật ;
- Tuy nhiên, khi hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi mà thời hiệu xử lý kỷ luật lao động đã hết thì được kéo dài thời hiệu nhưng tối đa không quá 60 ngày kể từ ngày hết thời gian nêu trên.
- Tại Khoản 3 - Điều 137 Luật cũng quy định trường hợp không được sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng. Tuy nhiên hiện nay, việc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nữ, nhất là lao động nữ đang mang thai hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi không phải là chuyện hiếm gặp. Để đảm bảo quyền lợi cho mình khi tham gia lao động, người lao động nữ cần phải nắm được các quy định pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
- Ngoài ra, tại Khoan 4 - Điều 137 Lao động nữ trong thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời gian làm việc vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động. Lao động nữ trong thời gian hành kinh được nghỉ như sau: mỗi ngày 30 phút, tối thiểu là 03 ngày trong một tháng; thời gian nghỉ vẫn được hưởng đủ tiền lương theo hợp đồng lao động; thời gian nghỉ cụ thể do người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động phù hợp với điều kiện thực tế tại nơi làm việc và nhu cầu của lao động nữ.
- Thứ hai, quyền được nghỉ khám thai vẫn được hưởng lương 100%
Ngoài những quyền lợi được Bộ luật Lao động quy định như nêu trên, quyền lợi của lao động nữ mang thai còn thể hiện ở chế độ thai sản theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội:
Tại Điều 32 - Luật Bảo hiểm xã hội quy định trong thời gian mang thai, lao động nữ được nghỉ việc để đi khám thai 05 lần, mỗi lần 01 ngày; trường hợp ở xa cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người mang thai có bệnh lý hoặc thai không bình thường thì được nghỉ 02 ngày cho mỗi lần khám thai; thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản nêu trên tính theo ngày làm việc không kể ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần; chế độ thai sản khi thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền.
Lao động nữ sinh con được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản trước và sau khi sinh con là 6 tháng. Trường hợp lao động nữ sinh đôi trở lên thì tính từ con thứ hai trở đi, cứ mỗi con, người mẹ được nghỉ thêm 1 tháng.
Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 1900.6162 để được hỗ trợ tư vấn kịp thời. Hy vọng những thông tin trên chúng tôi cung cấp sẽ hỗ trợ sẽ giúp bạn trong việc bảo đảm quyền lợi cho người lao động là nữ giới. Xin chân thành cảm ơn!