1. Khái quát về lưu ban

Học sinh lưu ban là những trường hợp đặc biệt thường xuất hiện trong các lớp học, và hiện tại, pháp luật chưa cung cấp một định nghĩa hoặc khái niệm chính thức về thuật ngữ "lưu ban". Tuy nhiên, người ta thường hiểu và đồng ý rằng lưu ban đề cập đến việc học sinh tiếp tục tham gia quá trình học tập, nhưng vì một số lý do cụ thể nào đó, họ không thể tiến lên lớp tiếp theo và sẽ phải ở lại cùng lớp học thêm một năm nữa.

Trong trường hợp này, việc lưu ban thường xảy ra với những học sinh có những nhu cầu hoặc tình huống đặc biệt, đòi hỏi sự tư vấn và quyết định của các bên liên quan, bao gồm các giáo viên, quản lý trường, và gia đình học sinh. Quyết định lưu ban được đưa ra dựa trên nhiều yếu tố, chẳng hạn như khả năng học tập hiện tại của học sinh, các vấn đề về sức khỏe, hoàn cảnh gia đình, hay một sự cần thiết đặc biệt khác.

Việc lưu ban mang lại cơ hội cho học sinh để tiếp tục học tập và phát triển trong một môi trường quen thuộc, đồng thời tạo ra một cơ sở để họ nắm vững kiến thức và kỹ năng trước khi chuyển đến lớp tiếp theo. Điều này có thể hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh và giúp họ đạt được kết quả tốt hơn trong tương lai.

Mặc dù khái niệm "lưu ban" không được pháp luật định nghĩa rõ ràng, nhưng thông qua việc thảo luận và hiểu nhau, mọi người đã đồng ý sử dụng thuật ngữ này để mô tả một tình huống đặc biệt trong hệ thống giáo dục. Tuy nhiên, việc áp dụng lưu ban vẫn cần được quản lý và thực hiện theo quy định của trường và quyền hạn của các bên liên quan, nhằm đảm bảo sự công bằng và hiệu quả trong quá trình giáo dục.

 

2. Tiêu chuẩn xếp loại học lực của học sinh

Theo quy định tại Điều 13 của Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông (ban hành kèm theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011), được sửa đổi bởi khoản 6 và khoản 7 Điều 2 của Thông tư 26/2020/TT-BGDĐT, các tiêu chuẩn xếp loại học kỳ và xếp loại cả năm học được quy định như sau:

* Loại giỏi: Học sinh đạt loại giỏi nếu đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

- Điểm trung bình các môn học từ 8,0 trở lên, trong đó có một trong ba môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ đạt điểm trung bình từ 8,0 trở lên. Riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên, cần đạt điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 8,0 trở lên.

- Không có môn học nào đạt điểm trung bình dưới 6,5.

- Các môn học được đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ.

* Loại khá: Học sinh đạt loại khá nếu đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

- Điểm trung bình các môn học từ 6,5 trở lên, trong đó có một trong ba môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ đạt điểm trung bình từ 6,5 trở lên. Riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên, cần đạt điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 6,5 trở lên.

- Không có môn học nào đạt điểm trung bình dưới 5,0.

- Các môn học được đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ.

* Loại trung bình: Học sinh đạt loại trung bình nếu đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

- Điểm trung bình các môn học từ 5,0 trở lên, trong đó có một trong ba môn Toán, Ngữ văn, Ngoại ngữ đạt điểm trung bình từ 5,0 trở lên. Riêng đối với học sinh lớp chuyên của trường THPT chuyên, cần đạt điều kiện điểm trung bình môn chuyên từ 5,0 trở lên.

- Không có môn học nào đạt điểm trung bình dưới 3,5.

- Các môn học được đánh giá bằng nhận xét đạt loại Đ.

* Loại yếu: Học sinh đạt loại yếu nếu đáp ứng các tiêu chuẩn sau:

- Điểm trung bình các môn học từ 3,5 trở lên, không có môn học nào đạt điểm trung bình dưới 2,0.

* Loại kém: Học sinh không thuộc vào các loại trên.

Nếu điểm trung bình học kỳ hoặc điểm trung bình cả năm của học sinh đạt mức yêu cầu cho một loại nhưng do kết quả của duy nhất một môn học nào đó thấp hơn mức quy định cho loại đó, thì xếp loại học lực sẽ được điều chỉnh như sau:

- Nếu điểm trung bình học kỳ hoặc điểm trung bình cả năm đạt mức loại giỏi nhưng do kết quả của duy nhất một môn học nào đó mà phải xuống loại trung bình, thì học lực sẽ được điều chỉnh xếp loại khá.

- Nếu điểm trung bình học kỳ hoặc điểm trung bình cả năm đạt mức loại giỏi nhưng do kết quả của duy nhất một môn học nào đó mà phải xuống loại yếu, thì học lực sẽ được điều chỉnh xếp loại trung bình.

- Nếu điểm trung bình học kỳ hoặc điểm trung bình cả năm đạt mức loại khá nhưng do kết quả của duy nhất một môn học nào đó mà phải xuống loại yếu, thì học lực sẽ được điều chỉnh xếp loại trung bình.

- Nếu điểm trung bình học kỳ hoặc điểm trung bình cả năm đạt mức loại khá nhưng do kết quả của duy nhất một môn học nào đó mà phải xuống loại kém, thì học lực sẽ được điều chỉnh xếp loại yếu.

 

3. Những điều kiện để được lên lớp

Theo quy định tại Điều 15 của Quy chế đánh giá và xếp loại học sinh Trung học cơ sở và học sinh Trung học phổ thông, ban hành kèm theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT (sửa đổi bổ sung bởi Thông tư 26/2020/TT-BGDĐT), để đạt điều kiện để lên lớp, áp dụng các quy định sau:

- Hạnh kiểm và học lực từ trung bình trở lên (không nghỉ quá 45 buổi học trong một năm học, bao gồm cả nghỉ có phép hoặc không phép, nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại).

- Học sinh sẽ không được lên lớp nếu thuộc vào một trong các trường hợp sau:

+ Nghỉ quá 45 buổi học trong năm học (bao gồm cả nghỉ có phép hoặc không phép, nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần cộng lại).

+ Học lực cả năm hạng kém hoặc học lực hạnh kiểm cả năm hạng yếu. Sau khi đã kiểm tra lại một số môn học, môn đánh giá bằng điểm có điểm trung bình dưới 5,0 và 2 môn đánh giá bằng nhận xét bị xếp loại chưa đạt để xếp loại lại học lực cả năm, nhưng vẫn không đạt loại trung bình. Hạnh kiểm cả năm hạng yếu nhưng không hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện trong kỳ nghỉ hè sẽ tiếp tục bị xếp hạnh kiểm yếu.

Do đó, nếu học lực của học sinh không đạt hoặc hạnh kiểm yếu, sẽ không đủ điều kiện để lên lớp.

Đối với học sinh có học lực yếu, sẽ không được lên lớp nếu cả hạnh kiểm cả năm cũng bị xếp hạng yếu. Tuy nhiên, nếu học sinh có học lực yếu nhưng hạnh kiểm trung bình trở lên, thường sẽ xem xét cho phép thi lại hoặc lưu ban.

Học sinh có hạnh kiểm cả năm từ trung bình trở lên, nhưng học lực cả năm được xếp hạng yếu, sẽ được chọn một số môn học trong đó có điểm trung bình cả năm dưới 5,0 hoặc được xếp loại chưa đạt để tiến hành kiểm tra lại. Kết quả kiểm tra lại sẽ được lấy để thay thế cho kết quả xếp loại cả năm của môn học đó, từ đó tính lại điểm trung bình các môn cả năm và xếp loại học lực. Nếu đạt loại trung bình, học sinh sẽ được lên lớp.

 

4. Có 1 môn dưới 5 có được lên lớp năm học 2022 -2023 không?

Từ những phân tích trên, có thể thấy các quy định về trường hợp không được lên lớp như sau:

- Vượt quá số lượng buổi học nghỉ trong năm học, tổng cộng không quá 45 buổi (bao gồm cả nghỉ có phép hoặc không phép, nghỉ liên tục hoặc nghỉ nhiều lần).

- Học lực cả năm được xếp loại Kém hoặc cả học lực và hạnh kiểm cả năm được xếp loại Yếu.

- Sau khi kiểm tra lại một số môn học, môn đánh giá bằng điểm có điểm trung bình dưới 5,0 hoặc môn đánh giá bằng nhận xét được xếp loại CĐ, nhưng vẫn không đạt loại trung bình.

- Hạnh kiểm cả năm xếp loại Yếu và không hoàn thành nhiệm vụ rèn luyện trong kỳ nghỉ hè.

Tuy nhiên, nếu học sinh chỉ thiếu điểm ở một môn dưới 5,0 thì vẫn có thể được lên lớp, trừ trường hợp sau khi kiểm tra lại một số môn học, môn đánh giá bằng điểm có điểm trung bình dưới 5,0 hoặc môn đánh giá bằng nhận xét bị xếp loại CĐ, để xếp loại lại học lực cả năm nhưng vẫn không đạt loại trung bình.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Học lực loại yếu có được lên lớp hay không?

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Có 1 môn dưới 5 có được lên lớp năm học 2022 -2023 không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.