Xin chào luật sự, được biết Bộ luật lao động năm 2019 có nhiều điểm mới về thỏa ước lao động. Vậy tôi muốn được chỉ chỉ rõ những điểm mới này tại Bộ luật lao động 2019 so với bộ luật cũ. Rất mong được giải đáp. Xin cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Lao động của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Lao động, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật lao động năm 2019

- Nghị định 28/2020/NĐ-CP

2. Luật sư tư vấn:

1, Thỏa ước lao động tập thể là gì? Quy định về thỏa ước lao động tập thể có gì mới?

Xin chào luật sự, được biết Bộ luật lao động năm 2019 có nhiều điểm mới về thỏa ước lao động. Vậy tôi muốn được chỉ chỉ rõ những điểm mới này tại Bộ luật lao động 2019 so với bộ luật cũ. Rất mong được giải đáp. Xin cảm ơn!

Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản. Thỏa ước lao động tập thể không được trái quy định pháp luật.

Bộ luật lao động năm 2019 đã có nhiều sửa đổi về thỏa ước lao động. Cụ thể như sau:

a, Sửa đổi, bổ sung quy định về thỏa ước lao động tập thể

Điều 75 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định:

“1. Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản.

Thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các thỏa ước lao động tập thể khác.

2. Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật; khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật.”

Theo đó, bổ sung quy định: thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp; sửa đổi quy định “nội dung thoả ước lao động tập thể phải có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật” thành quy định “khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật”.

b, Sửa đổi, bổ sung quy định về lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể

+ Sửa đổi quy định về văn bản lấy ý kiến

Khoản 1 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: Đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, trước khi ký kết, dự thảo thỏa ước lao động tập thể đã được các bên đàm phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp chỉ được ký kết khi có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành.

Theo đó, sửa đổi quy định “có trên 50% số người của tập thể lao động biểu quyết tán thành nội dung thương lượng tập thể đã đạtđược” bằng quy định “dự thảo thỏa ước lao động tập thể đã được các bên đàm phán phải được lấy ý kiến của toàn bộ người lao động trong doanh nghiệp” và “có trên 50% người lao động của doanh nghiệp biểu quyết tán thành”.

+ Sửa đổi đối tượng lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể ngành và bổ sung đối tượng lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp

Theo Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 thì đối tượng lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể ngành bao gồm toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng (Bộ luật Lao động cũ quy định đối tượng lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể ngành là đại diện Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc công đoàn cấp trên cơ sở). Và quy định: thỏa ước lao động tập thể ngành chỉ được ký kết khi có trên 50% tổng số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành.

Cũng tại Khoản 2 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 đã bổ sung đối tượng lấy ý kiến thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp là bao gồm toàn bộ người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng hoặc toàn bộ thành viên ban lãnh đạo của các tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thương lượng; đồng thời quy định: chỉ những doanh nghiệp có trên 50% số người được lấy ý kiến biểu quyết tán thành mới tham gia ký kết thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.

+ Bổ sung quy định về thời gian, địa điểm và cách thức lấy ý kiến biểu quyết đối với dự thảo thỏa ước lao động tập thể

Khoản 3 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định: “Thời gian, địa điểm và cách thức lấy ý kiến biểu quyết đối với dự thảo thỏa ước lao động tập thể do tổ chức đại diện người lao động quyết định nhưng không được làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tham gia thương lượng. Người sử dụng lao động không được gây khó khăn, cản trở hoặc can thiệp vào quá trình tổ chức đại diện người lao động lấy ý kiến biểu quyết về dự thảo thỏa ước.”

+ Sửa đổi quy định về người ký kết thỏa ước lao động tập thể

Khoản 4 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Thỏa ước lao động tập thể được ký kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương lượng. Trường hợp thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp được tiến hành thông qua Hội đồng thương lượng tập thể thì được ký kết bởi Chủ tịch Hội đồng thương lượng tập thể và đại diện hợp pháp của các bên thương lượng.”

Theo đó, sửa đổi quy định cụ thể về người ký kết thỏa ước lao động tập thể bằng quy định “Thỏa ước lao động tập thể được ký kết bởi đại diện hợp pháp của các bên thương lượng” và bổ sung quy định về người ký kếtthỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp.

+ Sửa đổi quy định về nơi nhận thỏa ước lao động tập thể

Khoản 5 Điều 76 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định: “Thỏa ước lao động tập thể phải được gửi cho mỗi bên ký kết và cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại Điều 77 của Bộ luật này.

Đối với thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp thì từng người sử dụng lao động và từng tổ chức đại diện người lao động tại các doanh nghiệp tham gia thỏa ước phải được nhận 01 bản.”

Theo đó, sửa đổi quy định “gửi thỏa ước lao động tập thể cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh đối với thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, cho Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đối với thỏa ước lao động tập thể ngành và Công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở” bằng quy định “gửi thỏa ước lao động tập thể (bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể nhiều doanh nghiệp) cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh”.

c, Bổ sung quy định về hiệu lực áp dụng của thỏa ước lao động tập thể

Khoản 2Điều 78 Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy địnhvề hiệu lực áp dụng của thỏa ước lao động tập thể như sau: “Thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối với người sử dụng lao động và toàn bộ người lao động của doanh nghiệp. Thỏa ước lao động tập thể ngành và thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp có hiệu lực áp dụng đối với toàn bộ người sử dụng lao động và người lao động của các doanh nghiệp tham gia thỏa ước lao động tập thể.”

d, Bổ sung quy định mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 84 Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định mở rộng phạm vi áp dụng của thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp như sau:“Khi một thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp có phạm vi áp dụng chiếm trên 75% người lao động hoặc trên 75% doanh nghiệp cùng ngành, nghề, lĩnh vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao thì người sử dụng lao động hoặc tổ chức đại diện của người lao động tại đó đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định mở rộng phạm vi áp dụng một phần hoặc toàn bộ thỏa ước đó đối với các doanh nghiệp cùng ngành, nghề, lĩnh vực trong khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao.”

e, Bổ sung quy định gia nhập và rút khỏi thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp

Khoản 1, 2 Điều 85 Bộ luật Lao động năm 2019 bổ sung quy định gia nhập và rút khỏi thỏa ước lao động tập thể ngành hoặc thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp như sau:

“1. Doanh nghiệp có thể gia nhập thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp khi có sự đồng thuận của tất cả người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp là thành viên của thỏa ước, trừ trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 84 của Bộ luật này.

2. Doanh nghiệp thành viên của thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp được rút khỏi thỏa ước lao động tập thể khi có sự đồng thuận của tất cả người sử dụng lao động và tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp là thành viên của thỏa ước, trừ trường hợp có khó khăn đặc biệt trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.”

2, Doanh nghiệp có bắt buộc phải vừa có Nội quy lao động vừa có Thỏa ước lao động tập thể hay không?

Xin chào luật sư, tôi biết rằng thỏa ước lao động là một hệ thống các thỏa thuận mà người lao động và người sử dụng lao động thông qua thương lượng mà đạt được và được lập thành văn bản. Vậy, liệu rằng có phải doanh nghiệp nào cũng cần phải có thỏa ước lao động hay không? Có bắt buộc vừa có thỏa ước lao động và vừa có nội quy lao động không ạ?

Điểm c khoản 1 Điều 6 Bộ luật lao động năm 2019 quy định về quyền của người sử dụng lao động như sau: “c) Yêu cầu tổ chức đại diện người lao động thương lượng với mục đích ký kết thỏa ước lao động tập thể; tham gia giải quyết tranh chấp lao động, đình công; đối thoại, trao đổi với tổ chức đại diện người lao động về các vấn đề trong quan hệ lao động, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của người lao động;”.

Theo đó, việc ký kết thỏa ước lao động là quyền mà pháp luật lao động ghi nhận cho người sử dụng lao động, chứ không phải là nghĩa vụ.

Bên cạnh đó tại Điều 75. Bộ luật lao động quy định về Thỏa ước lao động tập thể như sau:

1. Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản.

Thỏa ước lao động tập thể bao gồm thỏa ước lao động tập thể doanh nghiệp, thỏa ước lao động tập thể ngành, thỏa ước lao động tập thể có nhiều doanh nghiệp và các thỏa ước lao động tập thể khác.

2. Nội dung thỏa ước lao động tập thể không được trái với quy định của pháp luật; khuyến khích có lợi hơn cho người lao động so với quy định của pháp luật.

Trên cơ sở định nghĩa về thỏa ước lao động tập thể có thể thấy, pháp luật không quy định ký kết thỏa ước lao động là điều bắt buộc với mọi doanh nghiệp. Pháp luật lao động ghi nhận sự tồn tại của thỏa ước lao động tập thể là nhằm khuyến khích người sử dụng lao động và người lao động thương lượng để xây dựng một văn bản có các quy định mang tính thống nhất cao trên cơ sở đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của các bên để từ đó quan hệ lao động được phát triển bền chặt hơn.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, pháp luật không bắt buộc mọi doanh nghiệp ký kết thỏa ước lao động tập thể, nhưng khi đã thỏa thuận và ký kết hoàn thành phải tuân thủ quy định về thủ tục thoongbaos cho cơ quan quản lý như nhà nước. Nếu không sẽ bị xử phạt theo quy định tại Điều 15 Nghị định 28/2020/NĐ-CP:

“Điều 15. Vi phạm quy định về thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể

1. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Không gửi thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan quản lý nhà nước theo quy định;

b) Không trả chi phí cho việc thương lượng, ký kết, sửa đổi, bổ sung, gửi và công bố thỏa ước lao động tập thể;

c) Không công bố nội dung của thỏa ước lao động tập thể đã được ký kết cho người lao động biết.”

Có bắt buộc có nội quy lao động hay không?

Điều 118 Bộ luật lao động quy định về Nội quy lao động như sau: "1.Người sử dụng lao động phải ban hành nội quy lao động, nếu sử dụng từ 10 người lao động trở lên thì nội quy lao động phải bằng văn bản."

Với từ “phải” có nghĩa rằng việc lập nội quy lao động là điều bắt buộc đối với người sử dụng lao động. HƠn nữa, đối với người sử dụng lao động sử dụng từ 10 người lao động trở lên buộc phải lập nội quy lao động bằng văn bản và phải tiến hành đăng ký với Sở lao động – Thương binh và xã hội nơi người sử dụng lao động có trụ sở.

Như vậy, doanh nghiệp có thể không có thỏa ước lao động tập thể nhưng bắt buộc phải có nội quy lao động theo quy định của pháp luật.

3, Có phải thông báo thỏa ước lao động với cơ quan nhà nước hay không?

Thỏa ước lao động sau khi được ký kết sẽ được áp dụng trong nội bộ doanh nghiệp. Vậy doanh nghiệp có phải báo cáo về sự tồn tại của thỏa ước lao động này với cơ quan nhà nước không ạ? Rất mong được giải đáp. Xin cảm ơn!

Chào bạn, Luật Minh Khuê giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Điều 77. Bộ luật lao động quy định về Gửi thỏa ước lao động tập thể như sau:

Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày thỏa ước lao động tập thể được ký kết, người sử dụng lao động tham gia thỏa ước phải gửi 01 bản thỏa ước lao động tập thể đến cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính.

Theo đó, người sử dụng có thời hạn là 10 ngày kể từ ngày ký thỏa ước lao động tập thể, phải thực hiện việc gửi thỏa ước lao động tập thể đến Sở lao động thương binh và xã hội nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê