1. Cơ quan điều phối hoạt động

Có nhiều tiêu chí để phân loại các cơ quan điều phổi hoạt động cùa tổ chức quốc tế, ví dụ theo tiêu chí mức độ tham gia của các thành viên hoặc vị trí, chức năng của các cơ quan đó trong tổ chức quốc tế. Theo mức độ tham gia của thành viên, các cơ quan có thể chia thành cơ quan toàn thể và cơ quan hạn chế thành viên. Cơ quan toàn thể là cơ quan có sự tham gia của đại diện các quốc gia thành viên tổ chức quốc tế, ví dụ Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hợp quốc. Các thành viên cùa loại cơ quan này thường được bầu theo nhiệm kỳ, đại diện cho các nhóm quyền lợi trong khuôn khổ tổ chức nên thành viên thường xuyên thay đổi. Theo tiêu chí vị trí, chức năng của các cơ quan đó trong tổ chức quốc tế, các cơ quan được chia thành cơ quan chính và cơ quan bổ trợ. Các cơ qụan chính được quy định ngay chính trong điều ước thành lập tổ chức quốc tế. Đối với một số tổ chức, việc sắp xếp lại các cơ quan chính cho phù hợp với mục tiêu phát triển trong từng giai đoạn của tổ chức có thể được đặt ra (như thực tiễn hoạt động của ASEAN). Các cơ quan bổ trợ của tổ chức quốc tế do các cơ quan chính thiết lập nên để giúp cơ quan chính thực hiện chức năng của mình.

Việc thông qua quyết định hoặc nghị quyết của tổ chức quốc tế tại các cơ quan có thể tiến hành bằng một số cách thức nhất định, như nguyên tắc đa số tương đối (theo số lượng các thành viên có mặt và tham gia biểu quyết), đa sổ tuyệt đối (theo sổ lượng tất cả các thành viên của tổ chức quốc tế) hoặc nguyên tắc đồng thuận hay nhất trí (consensus). Consensus là cách thức thông qua quyết định bằng thương lượng mà không cần bỏ phiếu. Một quyết định được thông qua nếu không có thành viên phản đối. Tuy nhiên, nếu tất cả các thành viên của cơ quan phản đối, một quyết định sẽ không được thông qua. Cách thức này gọi là đồng thuận ngược.

2. Quy chế thành viên tổ chức quốc tế

2.1 Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của cấc thành viên tổ chức quốc tế

Mặc dù có sự phân biệt thành viên sáng lập tổ chức quốc tế với thành viên gia nhập tổ chức quốc tế đó, tuy nhiên, về cơ bản, thành viên của tổ chức quốc tế đều được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ sau:

- Quyền bình đẳng giữa các thành viên khi tham gia các hoạt động của tổ chức quốc tế, như quyền phát biểu ý kiến tại các cơ quan của tổ chức quốc tế, quyền tham gia thảo luận những vẩn đề mà tổ chức quốc tế đặt ra và có một lá phiếu khi thông qua các nghị quyết của tổ chức quốc tế. Hiện nay, do tính đặc thù trong hoạt động của một số tổ chức quốc tế như EU, WB hay do việc thừa nhận tư cách thành viên tổ chức quốc tế của các tổ chức quổc tế (tổ chức quốc tế trong một tổ chức quốc tế khác, như EU là thành viên WTO), một số tổ chức quốc tế có thể áp đụng cơ chế tỉ ttọng phiếu bầu (weighted vote), tức lá phiếu có tỉ trọng khác nhau, tuỳ thuộc theo đóng góp tài chính hay dân số...;

- Ngoài ra, cáe thành viên có quyền có đại diện cho quốc gia thành viên tại các tổ chức quốc tế; quyền ứng cử vào các cơ quan của tổ chức quốc tế; quyền rút khỏi tổ chức quốc tế; quyền được hưởng các khoản viện ttợ hoặc giúp đỡ về tài chính của tổ chức quốc tế.

- Các quốc gia thành viên có nghĩa vụ tương ứng với các quyền nêu trên, ví dụ, nghĩa vụ dành cho tổ chức quốc tế các quyền ưu đãi và miễn trừ cần thiết để tổ chức quốc tế thực hiện tốt chức năng của mình, song song với thực hiện các nghị quyết và quyết định của tổ chức quốc tế đề ra, nghĩa vụ đóng góp tài chính cho tổ chức quốc tế.

>> Xem thêm:  Tổ chức quốc tế là gì ? Đặc điểm, phân loại tổ chức quốc tế

2.2 Điều kiện và thủ tục gia nhập tổ chức quốc tế

Ngoài các thành viên sáng lập, để gia nhập một tổ chức quốc tế,-các thành viên phải đáp ứng những điều kiện chung như tự nguyện tuân thủ mục đích và nguyên tắc của tổ chức quốc tế, tự nguyện và có khả năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà tổ chức quốc tế quy định. Mỗi tổ chức quốc tế có thể có những quy định riêng về điều kiện gia nhập tổ chức quốc tế. Ví dụ, để trở thành thành viên của WTO, quốc gia xin gia nhập phải thoà mãn những đỉều kiện thiết yếu mà tổ chức này đật ra, như phải là quôc gia có nên kinh tế thị trường, có khả năng thực hiện được các cam kết của WTO theo xu thế tự do hoá và về trình tự, phải tiến hành đàm phán với tất cả các quốc gia thành viên của WTO về điều kiện gia nhập.

2.3 Rút khỏi tổ chức quốc tế

Rút khỏi tổ chức quốc tế là hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia thành viên thể hiện ý chí chấm dứt tư cách thành viên tổ chức quốc tế. Rút khỏi tổ chức quốc tế là quyền của các thành viên trên cơ sở chủ quyền quốc gia. Điều kiện và thủ tục để rút khỏi tổ chức quốc tế có thể được quy định trong các điều lệ cúa tổ chức quốc tế. Hệ quả pháp lý của hành vi rút khỏi tổ chức quốc tế là quốc gia không bị ràng buộc bởi các quyền và nghĩa vụ thành viên tổ chức.

2.4 Khai trừ khỏi tổ chức quốc tế

Khai trừ khỏi tổ chức quốc tế là chế tài mà tổ chức quốc tế đặt ra đối với các thành viên vi phạm nghiêm trọng, có hệ thống các nghĩá vụ cùa điều lệ tổ chức quốc tế và của luật quốc tế. Mục đích quy định chế tài này nhằm tăng cường tính tổ chức cũng như hiệu quả hoạt động của tổ chức quốc tế. Khi thành viên tổ chức quốc tế bị khai trừ, tư cách thành viên cũng tự động chấm dứt.

2.5 Đình chỉ quy chế thành viên tổ chức quốc tế

Đình chỉ quy chế thành viên tổ chức quốc tế là chế tài tổ chức quốc tế áp dụng đối với các thành viên trong một thời gian do có vi phạm nghiêm trọng các nghĩa vụ cùa Điều lệ nhưng chưa đến mức bị khai trừ. Trong khoảng thời gian đó, thành viên tổ chức quốc tế không được quyền biểu quyết trong các cơ quan của tổ chức quốc tế, tạm thời không thực hiện quyền đại diện trong cơ quan cao nhất của tổ chức quốc tế...

3. Nhân viên của tổ chức quốc tế

Nhân viên của tổ chức quốc tế bao gồm các viên chức của tổ chức quốc tế và các chuyên gia thực hiện nhiệm vụ của tổ chức quốc tế.

>> Xem thêm:  Tố tụng dân sự quốc tế là gì ? Quy định về tố tụng dân sự quốc tế

Viên chức cùa tổ chức quốc tế là những người được tổ chức quốc tế lựa chọn theo thể thức bầu hoặc được tuyển dụng theo nhiệm kỳ và được trả lương để thực hiện các công việc trong các cơ quan của tổ chức quốc tế. Các viên chức của tổ chức quốc tế được hưởng các quyền ưu đãi nhất định để họ thực hiện tốt chức năng của mình.

Ví dụ, viên chức của Liên hợp quốc được hưởng những ưu đãi và miễn trừ cần thiết để họ thực hiện chức năng của mình đổi với Liên hợp quốc theo khoản 2 Điều 105 Hiến chương và Công ước Viên năm 1946 về các quyền ưu đãi miễn trừ dành cho Liên hợp quốc.

Tuy nhiên, chỉ có các viên chức cao cấp của tổ chức quốc tế như tổng thư ký, các phó tổng thư ký và các giám đốc cùa một số cơ quan của Liên hợp quốc mới được hưởng các quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao như các viên chức ngoại giao. Các viên chức còn lại chỉ được hưởng một số quyền ưu đãi miễn trừ như quyền miễn trừ tài phán của nước sở tại về những đỉều họ viết, nói và những hành vi do họ thực hiện, quyền miễn trừ thụế về tiền lương hoặc các khoản phụ cấp, được miễn những hạn chế về nhập cư và đăng ký người nước ngoài...

Chuyên gia làm việc trong các phái đoàn của tổ chức quốc tế không phải viên chức của tổ chức quốc tế nhưng cũng được hưởng một số ưu đãi nhất định.

4. Hoạt động chức năng tổ chức quốc tế

4.1 Hoạt động xây dựng và thực hiện luật quốc tế

Hoạt động xây dựng pháp luật trực tiếp là hoạt động của tổ chức quốc tế với tư cách chủ thể của luật quốc tế. Các tổ chức quốc tế ký kết các điều ước quốc tế hoặc chấp nhận các tập quán quốc tế để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức quốc tế trong khuôn khổ thẩm quyền mà các quốc gia thành viên trao cho tổ chức.

Hoạt động xây dựng pháp luật gián tiếp là hoạt động đưa ra sáng kiến, bảo trợ để ký kết các điều ước quốc tế. Thông thường, tổ chức quốc tế sẽ tổ chức các diễn đàn, các hội nghị để các bên thương lượng và ký kết điều ước quốc tế, như các hội nghị luật biển của Liên hợp quốc, Hội nghị để ký Công ước Viên năm 1969 về luật điều ước quốc tế giữa các quốc gia... Tổ chức quốc tế cũng có thể tham gia soạn thảo các điều ước quốc tế.

Thông thường, tổ chức quốc tế có thể thông qua các loại văn kiện với giá ữị pháp lý khác nhau, chủ yếu theo ba dạng là những nghị quyết có giá trị pháp lý ràng buộc các quốc gia thành viên trong mọi trường hợp; những nghị quyết hoặc quyết định chỉ có giá trị ràng buộc các quốc gia thành viên trong những trường hợp cụ thể và các nghị quyết và quyết đĩnh mang tính chất khuyến nghị.

Tổ chức quốc tế cũng thiết lập nên các thiết phế để giám sát thực hiện các điều ước quốc tế mà tổ chức bảo trợ ký kềt, đặc biệt là các điều ước quốc tế về môi trường và quyền con người.

>> Xem thêm:  Eo biển quốc tế là gì ? Chế độ pháp lý eo biển quốc tế

4.2 Hoạt động nhằm xây dựng, hoàn thiện cơ cấu và ngân sách của tổ chức quốc tế

Việc duy trì và thực hiện các hoạt động của tổ chức quốc tế đòi hỏi phải có hệ thống cơ quan chặt chẽ và phải có ngân sách để thực hiện hoạt động của tổ chức quốc tế. Ngân sách của tổ chức quốc tế do các thành viên đóng góp tiền để duy trì hoạt động của tổ chức quốc tế. Khi thành lập tổ chức quốc tế, các quốc gia thông thương chỉ quy định về hệ thống các cơ quan chính, còn hệ thống các cơ quan bổ trợ được thành lập theo nhu cầu hoạt động của các tổ chức quốc tế.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Vùng nước quần đảo là gì ? Chế độ pháp lý vùng nước quần đảo