1.Tổ chức quốc tế liên quốc gia

Các tổ chức quốc tế liên quốc gia có được quyền năng chủ thể luật quốc tế không phải căn cứ vào “những thuộc tính tự nhiên” vốn có như quốc gia mà do thoả thuận của các quốc gia thành viên tự trao cho. Các tổ chức quốc tế liên quốc gia xuất hiện vào khoảng giữa thế kỷ XIX nhưng vấn đề quyền năng chủ thể luật quốc tế của thực thổ này chỉ được đặt ra trong lý luận và thực tiễn sinh hoạt quốc tế từ nửa sau của thế kỷ XX.

Quyền năng chủ thể luật quốc tê' của các tổ chức quốc tê' liên quốc gia dựa trên điều lệ (hiêh chương, quy chế...) của mỗi tổ chức, trong đó quy định rõ phạm vi quyền và nghĩa vụ cơ bản của tổ chức này. Như vậy, các tổ chức quốc tế liên chính phủ khác nhau sẽ có những phạm vi quyền năng chủ thể luật quốc tế không giống nhau.

Về lý luận và thực tiễn hoạt động, nhìn chung, các tổ chức quốc tế liên quốc gia thường có các quyền cơ bản như:

-     Được ký kết cấc điều ước quốc tế;

Tiếp nhận cơ quan đại diện và quan sát viên thường trực của các quốc gia chưa là thành viên tại tổ chức trên;

-    Được hưởng những miễn trừ và ưu đãi ngoại giao;

-    Được trao đổi đại diện tại các tổ chức của nhau;

-     Được yêu cầu kết luận tư vấn của Toà án quốc tế của Liên hợp quốc;

- Được giải quyết tranh chấp phát sinh giưa các thành viên và các tổ chức quốc tế đó.

Ngoài các quyền cơ bản nói trên, các tổ chức này còn có các nghĩa vụ quốc tế nhất định. Các tổ chức này cũng có những quyền và nghĩa vụ theo các điều ước ký kết với các quốc gia, các tổ chức quốc tế khác...

2.Định nghĩa công nhận quốc tế 

Trong quan hệ quốc tế, việc tồn tại hành vi và thực tiễn công nhân quốc tế tà tất yếu khách quan, do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu vì lý do các quốc gia thường không cùng xuất hiện và không hoàn toàn đổng nhất về thể chế nhà nước. Sự xuất hiện chủ thể mới trong quan hệ quốc tế ít nhiều đều có tác động nhất định đến tương quan của các mối quan hệ và liên kết quốc tế, dẫn đến những phản ứng khác nhau trong dư luân và sinh hoạt quốc tế. Những phản ứng quốc tế như vậy thường đưa đến những hê quả pháp lý xác định, làm thay đổi hoặc củng cố thêm các mối quan hệ quốc tế đa dạng giữa các quốc gia.

Sự công nhận quốc tế có thể được xem xét trên cơ sở coi công nhận là hành vi chính trị-pháp lý, dựa trên những động cơ nhất định (chủ yếu là động cơ chính trị, kinh tế, quốc phòng) của giai cấp thống trị quốc gia công nhận. Mục đích của hành vi mang tính chất công nhận quốc tế nhằm khẳng định lại quan hệ của quốc gia công nhận đối với đường lối chính sách, chế độ 

chính trị, kinh tế... của bên được công nhận (chủ yếu là quốc gia và chính phủ mới thành lập) hoặc nhằm thể hiện ý định của quốc gia công nhận muốn thiết lập quan hệ bình thường và ổn định trong nhiều lĩnh vực với bên được cõng nhận.

Từ những luận điểm cơ bản nêu trên, công nhận quốc tế có thể được quan niệm là hành vi chính trị -pháp lý của quốc gia cởng nhận dựa trên nen tảng các động cơ nhất định (mà chủ yếu là động cư chính trị, kinh tế, quốc phòng) nhàm xác nhận sự tồn tại của thành viên mới trong cộng đồng quốc tế, khẳng định quan hệ của quốc gia công nhận đối với chính sách, chế đô chính trị, kinh tế v.v. của thành viên mới và thể hiện ý định muốn được thiết lập các quan hệ bình thường, ổn định vứi thành viên mới của cộng đồng quốc tế trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống quốc tế.

Mối quan hệ giữa công nhân quốc tế và quyền năng chủ thể luật quốc tế, cũng như vị trí và vai trò của công nhận quốc tế đối với các thành viên mới của cộng đổng quốc tế được giải quyết theo chiều hướng khác nhau. Trong khoa học luật quốc tế, có nhiều quan điểm, trường phái và học thuyết khác nhau về vấn đề này nhưng chủ yếu vẫn ỉà hai thuyết cấu thành và tuyên bố là những thuyết thường dược để cập.

* Thuyết cấu thành

Thuyết cấu thành (hay còn gọi là Thuyết sáng lập ra chủ thể luật quốc tế) xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX. Những nguyên tác cơ băn của học thuyết này đến bây giờ vẫn nằm trong cơ sở thực liễn ngoại giao và hành pháp cửa nhiều nước. Nội dung cơ bản cùa thuyết cấu thành quan niệm các quốc gia mới được thành ỉập chỉ có thể trở thành chủ thể luật quốc tế và thành viên độc lập của cộng đồng quốc tê' nếu được các quốc gia khác chính thức công nhận. Thuyết cấu thành là thuyết chính trị phản động và là thuyết mâu thuẫn với luật quốc tế hiện đại. 

* Thuyết tuyên bố

Thuyết tuyên bô' cũng là học thuyết của các luật gia quốc tế tư sản được hình thành như là trào lưu chống lại Thuyết cấu thành. Cuộc đấu tranh giữa những người theo đuổi Thuyết cấu thành và những người theo đuổi Thuyết tuyên bố thực chất là cuộc đấu tranh giữa những thê' lực bảo thủ, phản động và lực lượng tiến bộ, bảo vệ những nguyên tắc dân chủ trong khoa học luật quốc tế. Những người chủ trương thuyết này cho rằng tất cả các quốc gia mới thành lập đều là chủ thể luật quốc tế và điểu đó được xác định thông qua bằng chứng là quốc gia này đã xuất hiện và đang còn tồn tại trên thực tế. Việc công nhận quốc gia mới thành lập không thể tạo ra chủ thể mới của luật quốc tê' mà chỉ đóng vai trò tuyên nhận sự tổn tại trên thực tê' của một quốc gia.

Chẳng hạn, Viện nghiên cứu pháp luật quốc tê' trong phiên họp tại Brucxen nãm 1936 đã tuyên bố, sự công nhận của một hay một vài quốc gia không ảnh hưởng đến tính chất thực tại của quốc gia mới thành lập về phương diện pháp lý.

Thuyết tuyên bố là thuyết ra đời trong cuộc đấu tranh của những quốc gia dân tộc tư sản trẻ chống lại các quốc gia phong kiến quân chủ chuyên chế và trong một mức độ nhất định nào đó là thuyết tiến bộ.

3. Công nhận quốc giữ mới thành lập 

Nhìn chung, các quốc gia từ trước đến nay có thể được thành lập theo một trong các trường hợp sau:

Thứ nhất, các quốc gia có thể thành lập theo con đường cổ điển là một tập thể con người có thể thành lạp quốc gia mới cách hoà bình do sự định cư của họ trên một lãnh thổ vô chủ hoặc trên lãnh thổ chưa có một tổ chức chính trị phù hợp. Trường hợp này hiện nay hầu như không còn gặp nữa.

Thứ hai, quốc gia có thể được thành lập do kết quả của cách mạng xã hội. Trường hợp này khá phổ biến ở châu Á, châu Phi, Mỹ Latinh trong thời gian sau Đại chiến thế giới thứ hai.

Thứ ba, quốc gia có thể được thành lập do kết quả hoạt dộng của các quốc gia đã hoặc đang tồn tại vào thời điểm thành ỉâp đó. Trong trường hợp này, quốc gia mới có thể được thành lập theo nhiều phương thức khác nhau, chẳng hạn, sự phân chia một quốc gia đang tồn tại thành hai hoặc nhiều quốc gia độc lập, hay là sự hợp nhất hai hay nhiều quốc gia độc lập thành một quốc gia mới...

Các quốc gia mới được thành lập theo các trường hợp nói trên, không phụ thuộc và thời gian, địa điểm, các đặc điểm dân cư, lãnh thổ, hình thức nhà nước... là những chủ thể mới của luật quốc tê' ngay từ thời điểm mớì được thành lập. Sự công nhận quốc gia ở đây chỉ đóng vai trò tuyên bố sự tổn tại trên trường quốc tế một quốc gia mới mà thôi.

Khi công nhận một quốc gia mới thành lập, các quốc gia công nhân chỉ ra ràng thành viên mới đó của cộng đồng quốc tê' là một thực thể có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ quốc tê' cơ bản theo luật quốc tế.

4.Công nhận chính phủ mới thành lập 

Khi một quốc gia mới được thành lập theo một trong những trường hợp nói trên thì sự công nhận quốc gia mới được thành lập thường đồng thời với công nhân chính phủ của quốc gia mới. Trong trường hợp này có sự trùng hợp tất yếu của hai thể loại công nhận - công nhận quốc gia và công nhận chính phủ. Ngoài trường hợp đặc biệt này ra thì hai thể loại công nhận đó là hai thể loại công nhận khác nhau và độc lập với nhau.

Còng nhận chính phủ mới có nghĩa là công nhận người đại diện hợp pháp cho một quốc gia có chủ quyền trong sinh hoạt quốc tế chứ không phải công nhận chủ thể mới của luật quốc tế. Công nhận chính phủ mới có ý nghĩa quan trọng như công nhận quốc gia mới thành lập. Sự công nhận chính phủ mới thường được đật ra đối với loại chính phủ de facto. Xét về phạm vi hoạt động và quyển lực, chính phủ de facto được phân ra làm hai loại, chính phủ de facto chung cho toàn quốc và chính phủ de facto địa phương.

Luật quốc tế không điều chỉnh và không thể điều chỉnh những quan hệ nội bộ của quốc gia. Chính vì vậy, chỉ những chính phủ đang thực hiện hiệu quả và độc lập quyền lực của mình trên toàn lãnh thổ hoặc trên một phần lớn lãnh thổ quốc gia và được đông đảo quần chúng nhân dân ủng hộ mới là đối tượng của công nhận quốc tế. Ngày nay, luật quốc tế thừa nhận nguyên tác hữu hiệu là cơ sở để công nhận các chính phủ de facto mới được thành lập. Nội dung nguyên tắc hữu hiệu được thể hiên rõ qua các điểm cơ bản sau:

-    Chính phủ mới phải được đông đảo quần chúng nhân dân tự nguyên, tự giác ủng hộ;

-    Chính phủ mới có đủ năng lực để duy trì và thực hiện quyền lực quốc gia trong một thời gian dài;

-    Chính phủ mới có khả năng kiểm soát toàn bộ hoặc phần lớn lãnh thổ quốc gia một cánh độc lập và tự chủ, tự quản lý và điều hành mọi công việc của đất nước.

5.Các hình thức công nhận quốc tế

Không tồn tại một hình thức công nhận thống nhất cho mọi trường hợp, Trong thực tiễn quan hệ quốc tế, các chủ thể thường sử dụng một trong các hình thức sau khi thực hiện hành vi công nhận quốc tế:

-    Công nhận de jure: Là công nhận quốc tế chính thức, ở mức độ đầy đủ nhất và trong một phạm vi toàn diện nhất,

-    Công nhận de facto: Là công nhận quốc tế thực tế nhưng ở mức không đầy đủ, hạn chế và trong một phạm vi không toàn diện. Theo V.I. Lê-nin, công nhận de facto là “công nhân mới một nửa”.

Quan hệ phát sinh giữa quốc gia công nhận và bôn được công nhân trên cơ sở công nhận de facto là những quan hệ quá độ tiến lên quan hệ toàn diện giữa các bên khi công nhận de jure. Phạm vi quan hệ giữa các bên khi công nhân de facto thường vẫn phải được xác định trên cơ sở các điều ước quốc tế. Sự khác nhau giữa công nhận de jure và công nhận de facto chủ yếu về mặt chính trị. Động cơ chính trị ở đây của bên công nhận de facto thể hiện ở thái độ thân trọng của quốc gia công nhận đối với quốc gia hoặc chính phủ mới được thành lập trong nhiều vấn đề liên quan đến tình hình, bối cảnh trong nước cũng như quốc tế.

-    Công nhận ad hoc: Là hình thức công nhận đậc biệt mà quan hệ giữa các bên chỉ phát sinh trong một phạm vi nhất định nhàm tiến hành một số công vụ cụ thể và quan hệ đó sẽ được chấm dứt ngay sau khi hoàn thành công vụ đó.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập)