mà không nghiên cứu tổ chức phi chính phủ), một khuôn khổ hợp tác phổ biến hiện nay giữa các quốc gia.
1. Tìm hiểu luật tổ chức quốc tế
Sự ra đời của Liên hợp quốc - trung tâm phổi hợp mọi hoạt động giữa các quốc gia và quá trình tồn tại, phát triển lớn mạnh của tổ chức quốc tế này, đậc biệt là vai trò quan trọng của Liên hợp quốc đối với cộng đồng quốc tế đã dẫn tới sự công nhận tư cách chủ thể luật quốc tế của các tổ chức quốc tế.
Tiếp nối thành công của Liên hợp quốc, nhiều tổ chức đa phương phổ cập như Tổ chức thương mại thế giới (WTO) hay các tổ chức khu vực như Liên minh châu Âu (EU), Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) đã được thành lập và hoàn thiện cả về cơ cấu tổ chức, phạm vi và chức năng hoạt động. Sự phát triển của các tổ chức quốc tế thể hiện ở vai trò và những đặc trưng về cách thức thành lập, cơ cấu tổ chức, giá trị pháp lý của các vãn bàn do tổ chức quốc tế ban hành. Thực tế đó đã chứng tỏ tổ chức quốc tế là hình thức hợp tác hữu hiệu và phổ cập giữa các quốc gia. Với tư cách chủ thể luật quốc tế, tổ chức quốc tế có tác động rất quan trọng đến sự phát triển nhiều mặt của các quan hệ quốc tế.
Sự phát triển của tổ chức quốc tế đã dẫn tới sự hình thành các quan hệ quốc tế đặc biệt, không mang tính chất truyền thống giữa các quốc gia. Nhóm quan hệ xã hội do luật tổ chức quốc tế điều chỉnh có sự độc lập nhất định, với những đặc trưng riêng mà các ngành luật truyền thống khác không điều chỉnh. Mặt khác, những nguyên tắc pháp luật quốc tế nền tảng đã hình thành khi xây dựng các quy phạm của luật tổ chức quốc tế, như nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thành viên, nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác...
Luật tổ chức quốc tế điều chỉnh cẳc nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình hình thành, tổ phức và hoạt động của các tổ chức quốc tế. Các quan hệ thuộc đối tượng điều chỉnh của luật này thường có hai nhóm: Quan hệ thuộc nội bộ của tổ chức và quan hệ giữa tổ chức đó với chủ thể khác của luật quốc tế. Vì vậy, quy phạm luật tổ chức quốc tế có thể chia làm hai loại: Quy phạm nội bộ để điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia thành viên của tổ chức với các cơ quan trong khuôn khổ tổ chức quốc tế và quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa tổ chức quốc tế với chủ thể khác của luật quốc tế. Tuy nhiên, sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối. Trên thực tế, không phải trường hợp nào cũng có thể phân định được rõ ràng, nhất là khi sự tham gia của một quốc gia trong các hoạt động của tổ chức quốc tế đồng thời với cả hai tư cách, vừa là chủ thể của luật quốc tế, vừa là thành viên của tổ chứờ đó.
Như vậy, luật tổ chức quốc tế có thể định nghĩa như sau:
Luật tổ chức quốc tế là một ngành luật độc lập của hệ thống pháp luật quốc tế hiện đại bao gồm tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật quốc tế điều chinh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể của luật quốc tế trong quá trình hình thành, tổ chức và hoạt động của tổ chức quốc tế, phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế.
2. Các nguyên tắc của luật tổ chức quốc tế
Luật tổ chức quốc tế trước hết được xây dựng và bảo đảm thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc mang tính chất Jus cogens của luật quốc tế. Ngoài hệ thống các nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế, việc duy trì hoạt động và phát triển quan hệ hợp tác của các thành viên của tổ chức quốc tế còn phải dựa trên các nguyên tắc chủ đạo của luật tổ chức quốc tế.
2.1 Nguyễn tắc tự nguyện và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia thành viên
Đây là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ giữa các thành viên khi tham gia tổ chức quốc tế. Nội dung của nguyên tắc thể hiện trước hết ở sự tự nguyên tham gia tổ chức quốc tế của các thành viên, ví dụ, tự nguyên ttở thành thành viên hoặc rút khỏi tổ chức quốc tế, trừ một số trường hợp đã thoả thuận trước. Các thành viên có quyền có một lá phiếu để biểu quyết quyết định các vấn đề trong khuôn khổ các cơ quan của tổ chức quốc tế, trừ một số ngoại lệ. Khi biểu quyết, các thành viên không chịu sự chi phối bởi ý chí của bất kỳ thành viên khác hoặc bất kỳ chủ thể nào khác của luật quốc tế. Sự bình đẳng về chủ quyền còn được thể hiện ở sự bằng nhau về sổ lượng các thành viên tham gia các phiên họp tại cơ quan toàn thể của tổ chức quốc tế hay việc sắp xếp chỗ ngồi của các đại diện quốc gia...
2.2 Nguyên tắc tôn trọng quyền năng độc lập của tổ chức quốc tế trong quan hệ với các thành viên và các chủ thể khác của luật quốc tế
Đây là nguyên tắc thể hiện tính đặc thù của mối quan hệ giữa tổ chức quốc tế và các quốc gia thành viên. Quyền năng . chủ thể luật quốc tế mà các tổ chức có được hoàn toàn trên cơ sở quốc gia thành viên tự nguyện trao cho tổ chức quốc tế để duy tri hoạt động của tổ chức. Tuy nhiên, để hoạt động hiệu
quả, quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế phải độc lập với quyền năng chủ thể luật quốc tế của các quốc gia thành viên. Với tư cách thành viên, quốc gia phải tôn ttọng quyền năng độc lập của tổ chức quốc tế. Đồng thời, các quốc gia thành viên phải tuân thủ đầy đủ các quy chế và các nghĩa vụ mà tổ chức quốc tế quy định, kể cả các cơ chế giám sát thi hành nghĩa vụ pháp lý quốc tế trong khuôn khổ tổ chức quốc tế. Nguyên tắc này, vì vậy, nhằm đảm bảo sự độc lập và sự hiệu quả trong hoạt động của tổ chức quốc tế với tư cách chù thể độc lập của luật quốc tế.
3. Nguồn của luật tổ chức quốc tế
Hiểu theo nghĩa hẹp, nguồn của luật tổ chức quốc tế trước hết bao gôm các điều ước quốc tế và tập quán quốc tế chứa đựng các quy phạm điều chỉnh quá trình hình thành, cơ cấu tổ chức và hoạt động của tổ chức quốc tế. Bên cạnh đó, một số phương tiên bồ trợ nguồn, như các nghị quyết của tổ chức quốc tế, các học thuyết của các học giả luật quốc tế, các phán quyết của các cơ quan tư pháp quốc tế, đặc biệt là các kết luận tư vấn của toà án công lý quốc tế cũng đóng vai ttò quan trọng trong việc làm sáng tỏ tư cách chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế cũng như các quyền ưu đãi miễn trừ của các tổ chức và viên chức của tổ chức này.
3.1 Điều ước quốc tế
Trong hệ thống nguồn của luật tổ chức quốc tế, Hiến chương Liên hợp quốc có vị trí đặc biệt quan trọng. Do có sự tham gia rộng rãi của các quốc gia thành viên và có cơ cấu hợp tác đặc biệt với các tổ chức chuyên môn để thực hiện thẩm quyền cùa mình, vai trò của Hiến chương Liên hợp quốc đã vượt ra ngoài khuôn khổ điều lệ của một tổ chức quốc tế. Hiến chương ghi nhận các nguyên tắc cơ bản của luật tổ chức quốc tế, các quyền và nghĩa vụ cơ bàn của tổ chức quốc tế cũng như thành viên của tổ chức quốc tế đồng thời điều chỉnh quan hệ giữa Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác, đặc biệt là với các tổ chức quốc tế chuyên môn và các tổ chức có quan hệ với Liên hợp quốc.
Trong nhóm các điều ước quốc tế giữa các quốc gia, quan trọng nhất là điều ước quốc tế hay điều lệ thành lập tổ chức quốc tế. Loại điều ước quốc tế này thường xác định tư cách chù thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế (như trường hợp Hiệp định thành lập WTO) và quan trọng hơn là quy định thẩm quyền hoạt động của tổ chức hoặc nội dung các quyền năng chủ thể luật quốc tế của tổ chức quốc tế.
Ngoài ra, các điều ước giữa các quốc gia còn đỉều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và các tổ chức quốc tế và giữa các tổ chức quốc tế với nhau, như Công ước Viên năm 1947 về ưu đãi và miễn trừ dành cho các tổ chức chuyên môn, Công ước Viên năm 1975 về cơ quan đại diện của quốc gia trong quan hệ với các tồ chức quốc tế phổ cập.
Nhóm điều ước quốc tế giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế bao gồm các điều ước quốc tế về trụ sở của tổ chức, về đại diện của các quốc gia thành viên, các điều ước khác để thực hiện chức năng cùa tổ chức quốc tế. Các điều ước quốc tế giữa các tổ chức quốc tế thường điều chỉnh quan hệ hợp tác giữa các tổ chức quốc tế, cơ chế trao đổi đại diện của các tổ chức quốc tế...
3.2 Tập quán quốc tế
Thực tiễn hoạt động của tổ chức quốc tế, các điều ước quốc tế phổ cập là cơ sở quan trọng nhất để hình thành các tập quán quốc tế. Qua thực tiễn hoạt động của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế chuyên môn, quyền ký kết điều ước quốc tế, quyền hường các quyền ưu đãi miễn trừ trên lãnh thổ quốc gia, quyền có đại diện tại các tổ chức quốc tế... được khẳng định như là các quyền mang tính chất tập quán.
Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)