Theo Khoản 1 Điều 188 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định:

"Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp."

Khoản 3 Điều 188 Luật doanh nghiệp quy định "Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh."

Như vậy, có thể thấy doanh nghiệp tư nhân là 1 tổ chức được thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp còn chủ doanh nghiệp tư nhân là cá nhân thành lập nên doanh nghiệp tư nhân. Hai chủ này là 2 chủ thể riêng biệt và khác nhau.

 

1. Đặc điểm nổi bật của doanh nghiệp tư nhân

- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn thành lập và làm chủ sở hữu

Doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đầu tư vồn, thành lập và làm chủ có nghãi là doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ. Tất cả các cá nhân đều có quyền thành lập doanh nghiệp tư nhân trừ những cá nhân không có quyền thành lập, quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.

Đặc điểm về chủ sở hữu (doanh nghiệp tư nhân thuộc sở hữu của một chủ thể) sẽ phân biệt doanh nghiệp tư nhân với những loại hình doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhiều chủ như công ty hợp danh, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên.

Với tính chất là doanh nghiệp thuộc sở hữu của một chủ nên toàn bộ vốn để thành lập doanh nghiệp tư nhân chỉ do một cá nhân (chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân) đầu tư. Tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp. Vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng ký. Chủ doanh nghiệp tư nhân có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản. Chủ doanh nghiệp tư nhân phải đăng ký số vốn đầu tư và phải ghi chép đầy đủ toàn bộ vốn, tài sản kể cả số vốn đầu tư và phải ghi chép đầy đủ toàn bộ vốn, tài sản kể cả vốn vay và tài sản thuế được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp vào sổ kế toán và báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động, chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư và phải được ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán. Trường hợp giảm vốn đầu tư xuống thấp hơn vốn đầu tư đã đăng ký thì chủ doanh nghiệp tư nhân chỉ được giảm vốn sau khi đã đăng kí với cơ quan đăng kí kinh doanh.

- Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân

Theo Điều 74 Bộ luật Dân sự năm 2015, một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: Được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, luật khác có liên quan; Có cơ cấu tổ chức theo quy định tại Điều 83 của Bộ luật Dân sự; Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; Nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập.

Như phân tích tại đặc điểm thứ nhất khi nhận diện doanh nghiệp tư nhân thì doanh nghiệp tư nhân do một cá nhân đầu tư vốn và làm chủ. Chủ doanh nghiệp tư nhân có quyền sở hữu tài sản đầu tư vào doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân không có tài sản độc lập. Do vậy, doanh nghiệp tư nhân không đủ điều kiện để được công nhận là pháp nhân.

- Chủ Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh thường được đặt ra đối với doanh nghiệp và chủ sở hữu doanh nghiệp. Trách nhiệm tài sản trong kinh doanh của doanh nghiệp để chỉ về khả nặng chịu trách nhiệm tài sản giữa doanh nghiệp với các khách hàng, chủ nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sẽ chịu trách nhiệm tài sản bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Trách nhiệm tài sản của chủ sở hữu doanh nghiệp là trách nhiệm của chủ sở hữu doanh nghiệp đối với doanh nghiệp do mình góp vốn đầu tư.

Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, không có tài sản riêng nên trách nhiệm tài sản đối với đối tác, khách hàng, chủ nợ, những người có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do chủ doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm tài sản vô hạn trong kinh doanh có nghĩa là chủ doanh nghiệp tư nahan phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình bao gồm cả tài sản chủ doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư vào doanh nghiệp và tài sản mà chủ doanh nghiệp tư nhân không đầu tư vào doanh nghiệp. Cụ thể hơn có thể hiểu là chủ doanh nghiệp tư nhân không chỉ chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi số vốn đầu tư đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh mà còn phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của mình không đầu tư vào doanh nghiệp trong trường hợp số vốn đầu tư đã đăng ký không đủ để thanh toán các khoản nợ phát sinh từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

- Doanh nghiệp tư nhân không được phát hành bất kì loại chứng khoán nào

Quy định trên của pháp luật đã hạn chế quyền huy động vốn để đầu tư mở rộng quy mô kinh doanh của chủ doanh nghiệp tư nhân. Hiện nay, ngoài doanh nghiệp tư nhân còn có công ty hợp danh là hai loại hình doanh nghiệp không có quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn. Điều đó có nghĩa là nếu các doanh nghiệp này muốn đầu tư mới, phát triển, mở rộng quy mô kinh doanh của doanh nghiệp mình thì chỉ giới hạn huy động vốn bằng cách chủ sở hữu doanh nghiệp đầu tư thêm vốn vào doanh nghiệp hoặc đi vay tài chính và có thể có những khoản thu hút vào doanh nghiệp hoặc đi vay tài chính và có thể có những khỏng thu hút vốn đầu tư khác từ việc được tặng cho, thừa kế tài sản.... So với công ty trách nhiệm hữu hạn được quyền phát hành trái phiếu và công ty cổ phần được phát hành chứng khoán để huy động vốn thì rõ ràng doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh khó khăn hơn khi tìm kiếm các nguồn tài chính cho hoạt động kinh doanh. Bên cạnh quy định doanh nghiệp tư nhân không được phát hành chứng khoán thì Luật Doanh nghiệp năm 2014 còn xác định rõ doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phẩn, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

 

2. Ưu, nhược điểm khi chọn loại hình doanh nghiệp tư nhân

2.1 Ưu điểm của doanh nghiệp tư nhân

Với đặc điểm doanh nghiệp tư nhân chỉ có 1 chủ sở hữu. Và được quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp. Do đó, các quyết định của chủ sở hữu luôn luôn được thông qua và sẽ không xảy ra các trường hợp tranh chấp hay khiếu kiện khiếu nại. Ngoài ra thủ tục thực hiện các công việc sẽ nhanh gọn hơn.

Chủ doanh nghiệp cũng đồng thời là đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có quyền bán hoặc cho thuê doanh nghiệp của mình cho người khác. Việc cho phép doanh nghiệp tư nhân được cho thuê doanh nghiệp là một ưu điểm vượt trội hơn các loại hình doanh nghiệp khác, trong trường hợp chủ doanh nghiệp tư nhân muốn tạm ngừng một thời gian hoặc có việc ra nước ngoài thì có thể cho thuế doanh nghiệp của mình. 

Cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp tư nhân tương đối đơn giản. Thêm vào đó, với đặc điểm chế độ trách nhiệm là vô hạn, doanh nghiệp tư nhân dễ dàng tạo được sự tin tưởng từ đối tác. Dễ dàng huy động vốn và hợp tác kinh doanh.

 

2.2 Nhược điểm của doanh nghiệp tư nhân

Bên cạnh những ưu điểm mà Luật Minh Khuê đã nêu ở trên, doanh nghiệp tư nhân cũng tồn tại không ít hạn chế, cụ thể:

Đây là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân. Không những thế, với đặc điểm Doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn nên tính rủi ro mang lại cho doanh nghiệp tư nhân rất cao khi đặc điểm này tạo một lợi thế "an toàn" cho chủ nợ vì chủ nợ có khả năng đòi được nợ không chỉ giới hạn trong số vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp tư nhân vào doanh nghiệp đó. 

Không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào trên thị trường. Và doanh nghiệp tư nhân cũng không được quyền phát hành trái phiếu. 

Không được góp vốn thành lập hoặc là mua cổ phần trong các loại hình doanh nghiệp khác.

Chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Khác với các mô hình hoạt động khác chủ doanh nghiệp có thể thành lập nhiều công ty/doanh nghiệp khác (trừ một số trường hợp đặc biệt), còn với doanh nghiệp tư nhân thì chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân duy nhất.

 

3. Quản lý doanh nghiệp tư nhân

Theo Điều 190 Luật Doanh nghiệp 2020 quy định về việc quản lý doanh nghiệp tư nhân như sau:

"Điều 190. Quản lý doanh nghiệp tư nhân

1. Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2. Chủ doanh nghiệp tư nhân có thể trực tiếp hoặc thuê người khác làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc để quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; trường hợp này, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân.

3. Chủ doanh nghiệp tư nhân là người đại diện theo pháp luật, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án, đại diện cho doanh nghiệp tư nhân thực hiện quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật."

Theo đó, chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã nộp thuế và thực hiện nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

 

4. Có được góp vốn vào doanh nghiệp tư nhân không?

Căn cứ theo quy định tại Khoản 3 Điều 188 Luật Doanh nghiệp có quy định:

"Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh."

Sở dĩ Pháp luật Việt Nam giới hạn tại sao cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân xuất phát từ bản chất của doanh nghiệp tư nhân là trách nhiệm tài sản vô hạn của chủ sở hữu. Điều đó có nghĩa mang tính rủi ro rất cao khi doanh nghiệp đứng trước bờ vực phá sản hay những khoản nợ khổng lồ. Lúc này, chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân phải dùng toàn bộ tài sản của mình để chịu trách nhiệm một cách vô hạn. Bên cạnh đó, một cá nhân có thể thành lập doanh nghiệp tư nhân khi đáp ứng được những điều kiện của pháp luật. Và thủ tục pháp lý để thành lập doanh nghiệp tư nhân cũng rất đơn giản nên pháp luật đã hạn chế sự thành lập doanh nghiệp tư nhân một cách trá hình với mục đích bất hợp pháp. Do đó để đảm bảo quyền lợi của khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợ của các doanh nghiệp tư nhân nên Luật chỉ cho phép mỗi cá nhân chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân nên bạn không thể thành lập thêm một doanh nghiệp tư nhân khác.

Khoản 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp quy định:

"Doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần". 

Căn cứ theo quy định trên, doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập vào công ty khác, cụ thể là công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. Bởi lẽ, doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp, do đó đây là đơn vị không có tư cách pháp nhân riêng biệt để tham gia vào các tổ chức có sự tách bạch về tài sản cá nhân và tài sản công ty như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh.

Tuy nhiên, chủ doanh nghiệp tư nhân vẫn được quyền góp vốn vào công ty khác, Luật Doanh nghiệp năm 2020 chỉ hạn chế quyền đối với doanh nghiệp tư nhân, còn bản thân người đứng đầu doanh nghiệp tư nhân vẫn có quyền tham gia góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào công ty TNHH, công ty cổ phẩn, công ty hợp danh. Do vậy, bạn vẫn có thể tham gia góp vốn vào công ty khác với tư cách cá nhân.

 

5. Tại sao doanh nghiệp tư nhân không được góp vốn?

Sở dĩ pháp luật có quy định "mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân" là bởi cá nhân là chủ doanh nghiệp tư nhân thì phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản của mình về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó để đảm bảo quyền lợi của khách hàng và đối tác, kể cả chủ nợi của các doanh nghiệp tư nhân nên Luật chỉ cho phép mỗi cá nhan chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Do vậy, căn cứ vào quy định nêu trên, có thể thấy, hiện nay nếu bạn đang là chủ sở hữu của một doanh nghiệp tư nhân chuyên về một lĩnh vực này thì không thể thành lập thêm một doanh nghiệp tư nhân khác. Có thể thấy, với quy định tại khoản 4 Điều 188 Luật Doanh nghiệp nêu trên chỉ hạn chế quyền góp vốn, thành lập, mua cổ phẩn, phần vốn góp của doanh nghiệp tư nhân mà không giới hạn những quyền ấy đối với chủ doanh nghiệp. Vậy nên, ngoài công ty hợp danh, hộ kinh doanh thì bạn hoàn toàn có thể góp vốn, thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần. 

Theo quy định này, chủ doanh nghiệp chỉ được thành lập một doanh nghiệp tư nhân, không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên hợp danh của công ty hợp danh. Và không có quy định nào cấm việc chủ doanh nghiệp tư nhân góp vốn, mua cổ phần tại công ty khác. Vì vậy, chủ doanh nghiệp tư nhân hoàn toàn có thể góp vốn, mua cổ phần tại doanh nghiệp khác với tư cách cá nhân. Do doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân, chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm vô hạn đối với các nghĩa vụ của công ty. Nên vốn góp hay cổ phần mà chủ doanh nghiệp tư nhân sở hữu tại các công ty khác cũng được coi là tài sản của doanh nghiệp tư nhân.

Luật Minh Khuê xin gửi tới Quý khách hàng những thông tin cần thiết xoay quanh chủ đề "Có được góp vốn vào doanh nghiệp tư nhân không?". Với bài viết trên, chúng tôi hi vọng rằng Quý khách hàng đã trả lời một phần nào những thắc mắc trước đó.

Trong trường hợp bạn còn bất kỳ câu hỏi liên quan đến vấn đề này hay các vấn đề khác như lao động, hôn nhân và gia đinh, doanh nghiệp, bảo hiểm,.... cần giải đáp về mặt pháp lý các bạn đừng ngần ngại nhấc máy lên và gọi tới số tổng đài 1900.6162 để được đội ngũ luật sự và chuyên viên tư vấn pháp lý với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề. Chúng tôi rất hận hạnh được đồng hành cùng quý khách hàng. Trân trọng!