1. Có được yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước bồi thường không?
Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 là một văn bản pháp luật quan trọng, quy định rõ về việc bồi thường cho các cá nhân và tổ chức gặp thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc quy định này được thiết lập nhằm đảm bảo tính minh bạch, trung thực và trách nhiệm của Nhà nước trong việc đền bù cho những tổn thất do hoạt động của cán bộ và đơn vị quản lý hành chính gây ra.
Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là rất đa dạng và rộng lớn, bao gồm nhiều trường hợp trong hoạt động quản lý hành chính. Điều 17 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 liệt kê chi tiết những trường hợp mà Nhà nước sẽ chịu trách nhiệm bồi thường, bao gồm:
- Khi Nhà nước ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật.
- Khi Nhà nước áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật.
- Khi Nhà nước áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trái pháp luật, bao gồm buộc tháo dỡ công trình, loại bỏ yếu tố vi phạm trên hàng hóa, bao bì hàng hóa, phương tiện kinh doanh, vật phẩm, và thu hồi sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng.
- Khi Nhà nước áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật.
- Khi Nhà nước áp dụng các biện pháp xử lý hành chính sau đây trái pháp luật, bao gồm giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Khi Nhà nước không áp dụng hoặc áp dụng không đúng quy định của Luật Tố cáo các biện pháp để bảo vệ người tố cáo khi người đó yêu cầu.
- Khi Nhà nước thực hiện hành vi bị nghiêm cấm theo quy định của Luật Tiếp cận thông tin về cố ý cung cấp thông tin sai lệch mà không đính chính và không cung cấp lại thông tin.
- Khi Nhà nước cấp, thu hồi, không cấp giấy chứng nhận, giấy phép hoặc các giấy tờ có giá trị trái pháp luật.
- Khi Nhà nước áp dụng thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; thu thuế, phí, lệ phí trái pháp luật; truy thu thuế, hoàn thuế trái pháp luật; thu tiền sử dụng đất trái pháp luật.
- Khi Nhà nước áp dụng thủ tục hải quan trái pháp luật.
- Khi Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trái pháp luật; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư trái pháp luật; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất trái pháp luật.
- Khi Nhà nước ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh trái pháp luật.
- Khi Nhà nước cấp văn bằng bảo hộ nhưng không đúng quy định hoặc từ chối cấp văn bằng bảo hộ trái pháp luật.
- Khi Nhà nước thực hiện hành vi bị nghiêm cấm đối với công chức từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.
2. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính như thế nào?
Tại khoản 1 Điều 7 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi đáp ứng đủ các căn cứ sau đây:
Đầu tiên, có một trong các căn cứ xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây thiệt hại và yêu cầu bồi thường tương ứng. Cụ thể, căn cứ này bao gồm các điều kiện sau:
- Có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Điều này đòi hỏi người bị thiệt hại phải có bằng chứng bằng văn bản chính thức đòi hỏi bồi thường từ cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại hoặc từ Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự liên quan đến yêu cầu bồi thường.
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính đã xác định có hành vi trái pháp luật của người bị kiện là người thi hành công vụ gây thiệt hại, và vụ án này phải thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đối thoại, Tòa án cũng phải yêu cầu bồi thường trước hoặc trong quá trình giải quyết vụ án hành chính này.
- Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án hình sự đã xác định có hành vi trái pháp luật của bị cáo là người thi hành công vụ gây thiệt hại và vụ án này thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự. Tại quá trình giải quyết vụ án hình sự này, Tòa án cũng yêu cầu bồi thường khi cần thiết.
Thứ hai, có thiệt hại thực tế của người bị thiệt hại thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước theo quy định Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017. Điều này yêu cầu người bị thiệt hại phải chứng minh và cung cấp bằng chứng về mức độ thiệt hại thực tế mà họ đã gánh chịu do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra.
Cuối cùng, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế và hành vi gây thiệt hại. Điều này đòi hỏi người bị thiệt hại phải cung cấp bằng chứng và chứng minh rõ rằng hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại mà họ đang gánh chịu.
Tóm lại, để được bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017, người bị thiệt hại cần đáp ứng các điều kiện về căn cứ xác định hành vi trái pháp luật, thiệt hại thực tế và mối quan hệ nhân quả. Chính nhờ sự rõ ràng và minh bạch của quy định này, việc bồi thường cho các trường hợp gặp thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra được thực hiện một cách công bằng và hiệu quả.
3. Nhà nước bồi thường thiệt hại dựa trên nguyên tắc nào?
Tại Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2017 quy định về nguyên tắc bồi thường của Nhà nước bao gồm:
- Việc bồi thường của Nhà nước được thực hiện theo quy định Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Việc giải quyết yêu cầu bồi thường được thực hiện kịp thời, công khai, bình đẳng, thiện chí, trung thực, đúng pháp luật; được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa cơ quan giải quyết bồi thường và người yêu cầu bồi thường theo quy định Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
Việc giải quyết yêu cầu bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự được thực hiện tại cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ gây thiệt hại theo quy định tại Mục 1 Chương V Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Người yêu cầu bồi thường đã yêu cầu một trong các cơ quan giải quyết bồi thường quy định tại khoản 7 Điều 3 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017 giải quyết yêu cầu bồi thường và đã được cơ quan đó thụ lý giải quyết thì không được yêu cầu cơ quan có thẩm quyền khác giải quyết yêu cầu bồi thường, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 52 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Nhà nước giải quyết yêu cầu bồi thường sau khi có văn bản làm căn cứ yêu cầu bồi thường hoặc kết hợp giải quyết yêu cầu bồi thường trong quá trình tố tụng hình sự, tố tụng hành chính tại Tòa án đối với yêu cầu bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án hình sự, thi hành án dân sự theo quy định Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2017.
- Trường hợp người bị thiệt hại có một phần lỗi trong việc gây ra thiệt hại thì Nhà nước chỉ bồi thường phần thiệt hại sau khi trừ đi phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người bị thiệt hại.
Mời quý bạn đọc tham khảo bài viết: Yếu tố "lỗi" trong bồi thường thiệt hại ngoài lao động. Khi có thắc mắc hãy liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn đến email: lienhe@luatminhkhue.vn