1. Có lấy lại được tiền khi đã bị lừa đặt qua mạng ?

Xin chào luật sư, em có đặt hàng của 1 chị qua facebook tổng hết 1375k. Em đã chuyển khoản qua ngân hàng, nhưng đợi gần 1 tuần không thấy hồi âm, em có gọi điện theo số mà chị ý đã cho nhưng không liên lạc được, facebook thì khóa, mấy ngày sau đó em thử liên lạc lại thì vẫn vậy số vẫn khóa, nhưng em phát hiện là đã mở nhưng chị ý chặn facebook em.
Hóa đơn chuyển khoản em vẫn giữ, nhưng em chỉ có thông tin là tài khoản ngân hàng của chị ý và trong lúc hỏi mua hàng thì chị ý có bảo địa chỉ chị ý ở Sóc Sơn, địa chỉ của em cũng ở Sóc Sơn ( em cũng không biết là chị ý có nói đúng hay không ).
Theo luật sư thì em có nên làm đơn tố cáo lên công an huyện Sóc Sơn không ạ và em có khả năng lấy lại được tiền không ạ?
Em xin cảm ơn luật sư.!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự về đặt hàng qua mạng, gọi:1900.0159

Luật sư trả lời:

Theo dữ liệu mà bạn đưa ra thì bạn đặt hàng của một chị qua facebook (tạm gọi là A) với số tiền là: 1.375.000 VNĐ tuy nhiên hiện tại A đã chặn facebook của bạn, không liên hệ, trao đổi gì đó với bạn nữa. Với hành vi này, này A rất có thể cấu thành nên tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại..."

Trong trường hợp này để quyền lợi của bạn được bảo đảm bạn nến xem xét làm đơn tố giác gửi tới cơ quan có thẩm quyền nhà nước theo quy định của Điều 144, 145 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, cụ thể:

"Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.....

Điều 145. Trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố

1. Mọi tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố phải được tiếp nhận đầy đủ, giải quyết kịp thời. Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố..."

Tuy nhiên, với hành vi lừa đảo qua mạng xã hội, rất khó để bạn có đảm bảo được quyền lợi của mình bởi như bạn cũng biết thì một người có thể sử dụng rất nhiều tài khoản facebook, trên những tài khoản đó không chứa đựng những thông tin cá nhân của họ nên việc điều tra, xử lý vi phạm sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Hiện tại, công nghệ ngày càng phát triển, có rất nhiều trường hợp như thế này đã xảy ra do đó bạn nên xem xét kỹ trước khi thực hiện bất kỳ một giao dịch nào đó.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tội hiếp dâm trẻ em bị xử phạt bao nhiêu năm tù ? Trình báo hành vi hiếp dâm

2. Tư vấn đòi tiền bị lừa qua mạng xã hội ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Trang mạng xã hội facebook gửi cho tôi một tin nhắn nói rằng tôi đã trúng thưởng giải nhất chương trình tri ân khách hàng bao gồm 1 xe máy Sh 150i và 100.000.000 đồng tiền mặt và gợi ý cho tôi đăng nhập vào trang web www.mangxahoi....net.
Tôi đã làm theo và đăng nhập vào trang web đó và điền thông tin cá nhân để làm thủ tục nhận giải thì trang yêu cầu tôi phải thanh toán 1.500.000 tiền chi phí làm hồ sơ nhận giải. Thanh toán chi phí bằng cách mua đủ 1.500.000 đồng tiền thẻ cào rồi thanh toán qua trang web www.mangxahoi.../thanhtoan/php. Trang web cho biết, sau khi tôi thanh toán xong 1.500.000 đồng thì số tiền 100.000.000 đồng sẽ được chuyển vào tài khoản ATM của tôi. Tuy nhiên, sau khi thanh toán xong, tôi lại nhận được cuộc gọi từ phía trao giải và họ yêu cầu tôi thanh toán 3.700.000 tiền thuế VAT với hình thức thanh toán như trên.
Và họ cho biết, sau khi tôi thanh toán xong 3.700.000 đồng thì sau 30 phút tôi sẽ nhận được tiền trong tài khoản ATM. Nhưng, sau khi tôi thanh toán xong 3.700.000 nhân viên bên trao giải lại thông báo rằng tôi phải thanh toán thêm 4.800.000 đồng để mua mã số kích hoạt thì ban tổ chức mới tiến hàng trao 100.000.000 đồng cho tôi. Tôi cảm thấy mình đã bị lừa nên tôi muốn lấy lại số tiền đã thanh toán qua 2 lần là 5.200.000 thì tôi phải làm như thế nào?
Trân trọng cảm ơn.
Người gửi: P.K

>> Luật sư tư vấn luật dân sự gọi số: 1900.0159

Trả lời:

Căn cứ Điều 139, Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 (Luật sửa đổi bổ sung một số điều bộ luật hình sự số 37/2009/QH12) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm".

Như vậy, với căn cứ pháp lý nêu trên và với trường hợp của bạn thì tổ chức đó đã đã gửi tin nhắn đến cho bạn rằng bạn đã trúng thưởng gồm 1 xe máy SH 150i và 100.000.000vnd tiền mặt và gợi ý cho bạn đăng nhập vào trang web www.mangxahoitrian.net. Bạn đã làm theo và đăng nhập vào trang web đó và điền thông tin cá nhân để làm thủ tục nhận giải và đã thanh toán 2 lần với tổng số tiền là 5.200.000 đồng, hành vi này đã chiếm đoạt của bạn số tiền là 5.200.000 đồng và đủ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại Điều 139, Bộ luật hình sự nêu trên.

Để lấy lại số tiền bị chiếm đoạt là 5.200.000 đồng bạn có thể khởi kiện theo quy định pháp luật về tố tụng hình sự để nhờ Tòa án giải quyết.

Căn cứ vào Điều 83, Bộ luật Tố tụng hình sự số 19/2003/QH11quy định:

"Điều 83. Căn cứ khởi tố vụ án hình sự.

Chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những cơ sở sau đây:
1- Tố giác của công dân;
2- Tin báo của cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội;
3- Tin báo trên các phương tiện thông tin đại chúng;
4- Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án, đơn vị Bộ đội biên phòng, cơ quan Hải quan và cơ quan Kiểm lâm trực tiếp phát hiện dấu hiệu của tội phạm;
5- Người phạm tội tự thú."

Như vậy, với trường hợp của bạn, bạn có quyền tố giác tội phạm để khởi tố vụ án hình sự này.

Trên đây là phần tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, cảm ơn bạn đã lựa chọn và tin tưởng công ty chúng tôi. Nếu bạn có bất kỳ vướng mắc nào cần được giải đáp ngay, bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi qua số điện thoại đường dây nóng (24/7): 1900.0159 để được tư vấn miễn phí trực tiếp.

>> Xem thêm:  Bị chồng bạo lực gia đình muốn tố cáo để răn đe thì viết đơn như thế nào ?

3. Thủ tục khởi kiện khi bị lừa trên mạng xã hội ?

Luật Minh Khuê giải đáp các thắc mắc về thủ tục khởi kiện tại Tòa án và các vấn đề liên quan.

Trả lời:

Bộ luật dân sự năm 2015 quy định:

"Điều 280. Thực hiện nghĩa vụ trả tiền

1. Nghĩa vụ trả tiền phải được thực hiện đầy đủ, đúng thời hạn, đúng địa điểm và phương thức đã thỏa thuận.

2. Nghĩa vụ trả tiền bao gồm cả tiền lãi trên nợ gốc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10 của Quốc Hội (Bộ luật hình sự số 37/2009/QH12 sửa đổi, bổ sung một số điều của Quốc hội) quy định:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Thưa luật sư, xin hỏi: Sự việc là em bị một người giả danh bạn em trên fb để lừa e mua thẻ cào điện thoại, kết quả là em bị lừa 300k ,cho em hỏi với số tiền ít như vậy có thể khởi kiện được không ạ,không chỉ riêng em mà em còn biết còn nhiều người khác bị lừa nữa?

=> Trường hợp này với số tiền là 300.000 đồng chưa đủ yếu tố để bạn khởi kiện hình sự. Nếu bạn muốn làm đơn tố cáo lên cơ quan công an hoặc khởi kiện hình sự thì bạn phải có đủ căn cứ chứng minh người đó đã lừa những người khác với số tiền từ 2 triệu đồng trở lên như đoạn chụp tin nhắn trên facebook, giấy chuyển tiền...

Trường hợp này bạn chỉ có thể khởi kiện dân sự. Hồ sơ khởi kiện bạn nộp tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú.

Hồ sơ khởi kiện gồm:

- Đơn khởi kiện (Mẫu đơn)

- Các giấy tờ liên quan đến vụ kiện ( giấy tờ sở hữu nhà, đất, hợp đồng liên quan…)

- Đối với cá nhân: Giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu (bản sao có công chứng).

- Đối với pháp nhân: Giấy tờ về tư cách pháp lý của người khởi kiện, của các đương sự và người có liên quan khác như: giấy phép, quyết định thành lập doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; điều lệ hoạt động, quyết định bổ nhiệm hoặc ủy quyền đại diện doanh nghiệp (bản sao có công chứng).

- Bản kê các giấy tờ nộp kèm theo đơn kiện (ghi rõ số bản chính, bản sao).

Lưu ý: Các giấy tờ nêu trên là văn bản, giấy tờ tiếng nước ngoài đều phải được dịch sang tiếng Việt Nam. Do cơ quan, tổ chức có chức năng dịch thuật, kèm theo bản gốc.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có đặt mua. Hạt giống hoa tại ngân hàng hạt giống. Với những hình ảnh. Rõ ràng.với tổng giá tiền 600 nghìn. Nhưng khi họ chuyển về. Đc vài gọi ko đúng chủng loại yêu cầu và trị giá 100 nghìn và tôi mất tới 500 nghìn. Với họ tôi muốn tố cáo họ để. Pháp luật. Trừng trị họ để họ ko đi lừa đảo ng khác nữa

=> Trường hợp này bạn phải có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan công an tuy nhiên bạn phải có bằng chứng, nhân chứng xác nhận về việc bạn có bị người này lấy điện thoại và đi mất.

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, xin hỏi: Vào năm 2015 ba mẹ tôi có mượn tiền với số tiền là 20 triệu đồng với lãi suất 1.200.000 tháng...sau đó do kinh tế nên không có khả năng chi trả thì chủ nợ dùng hình anh gia đình tôi để chia sẽ trên fb là là đảo.trong đó có hình ảnh của tôi. Vậy xin hỏi Luật Sư như vậy người đó phạm vào tội bôi nhọ xanh dự người khác không? Sự việc xảy ra tôi mới biết dc gia đình tôi nợ tiền.

=> Trường hợp này người đó đã sử dụng hình ảnh của gia đình bạn đăng lên mạng với mục đích xâm phạm danh dự, nhân phẩm của gia đình bạn khi chưa có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về vấn đề này. Bạn có thể khởi kiện để yêu cầu được bồi thường. Bộ luật dân sự quy định:

"Điều 611. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân bị xâm phạm, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.

2. Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Bị lừa qua mạng có cách đòi được không ? Cách xư lý việc lừa tiền chạy việc

4. Bảo vệ quyền khi giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối ?

Kính chào Luật sư, mong Luật sư tư vấn giúp tôi, tôi có mua 1 chiếc innova từ 1 người mà sau này tôi được biết là lừa đảo (gọi tắt là A). Tôi xin tóm tắt như sau. A đã thông đồng với B thuê chiếc innova từ C và làm giấy tờ giả, thông qua 1 người môi giới để bán cho tôi.
Trong thời gian chờ đợi đi công chứng để giao số tiền còn lại thì C xuất hiện và đưa ra giấy tờ chứng minh chủ sở hữu. Hai bên đã nhờ công an can thiệp để xử lý. Nay tôi muốn hỏi Luật sư quyền lợi và nghĩa vụ của tôi trong vụ án trên là gì, tôi là người không hề biết giấy tờ trên là giả, liệu về pháp lý tôi sẽ được những gì ?
Rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư. Xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật dân sự, gọi:1900.0159

Trả lời:

Căn cứ theo Điều 132, Điều 137, khoản 1 Điều 138, Điều 257 của Bộ luật Dân sự 2005 quy định:

Điều 132. Giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, đe dọa

Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu.

Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó.

Đe dọa trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc người thứ ba làm cho bên kia buộc phải thực hiện giao dịch nhằm tránh thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản của mình hoặc của cha, mẹ, vợ, chồng, con của mình.

Điều 137. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản giao dịch, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Điều 138. Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu

1. Trong trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì giao dịch với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 257 của Bộ luật này.

Điều 257. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trong trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Theo các quy định trên, thì giao dịch giữa bạn và anh A là vô hiệu do lừa dối và tài sản là động sản bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu nên bạn phải trả lại tài sản (chiếc innova) cho chủ sở hữu và tố giác tội lừa đảo của A lên cơ quan công an, đồng thời có nghĩa vụ hợp tác với cơ quan công an trong quá trình giải quyết vụ việc. Để bảo vệ quyền lợi của mình bạn cần yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Một khi giao dịch được Tòa án tuyên bố là vô hiệu, A sẽ phải trả lại số tiền đã nhận của bạn và bồi thường thiệt hại (nếu có).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Cách giải quyết khi bị lừa tiền nhờ xin việc ? Tố cáo hành vi lừa tiền chạy việc ở đâu ?

5. Mức bồi thường tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản ?

Thưa luật sư, Ngày 1/4 /2016 tôi có thuê một mặt bằng kinh doanh cafe từ một người bạn trước đó. Mặt bằng này ở trên còn có người khác thuê trọ, tôi chỉ kinh doanh bên dưới. Khi thuê người bạn đó nói là chủ nhà là chị A. Và nói là chị A cho phép thuê nên tôi yên tâm vì một phần quen biết một phần vì anh ấy là chủ cửa hàng bên cạnh - là một quán ăn có mác cty TNHH TMDV.
Hợp đồng thuê không công chứng vì anh ấy bảo đảm bằng dấu mộc công ty. Trong hợp đồng không ghi rõ về việc bồi thường bên cho thuê khi đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đến ngày 10/6 tôi nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng vì lý do "trễ tiền nhà 9 ngày". Sau ngày 11/6 tôi gởi giấy thông báo về việc đơn phương của họ là không hợp lý và không nằm trong điều khoản khi đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu bên đó đền bù vì tôi chỉ mới mở chưa tới 3 tháng và chỉ mới bắt đầu kinh doanh, vẫn còn đang nâng cấp quán. Trong thời gian sau đó, bên đó vẫn bặt vô âm tính và không trả lời. Đến khi tôi gởi giấy báo lần 3 thì bên ấy hẹn gặp nhưng không đi đến thống nhất đền bù và không đền bù. Sau đó họ gởi tôi tờ giấy “cho phép tôi thuê tiếp “ nhưng tôi không đồng ý. Khi tôi gởi yêu cầu lên phường thì khi họp mới phát hiện ra thêm anh C (một người khác) là chủ nhà cho chị A thuê và chị A chỉ cho anh ta (người cho tôi thuê mặt bằng) thuê để gởi xe chứ không kinh doanh. Và trong cuộc họp đó chị A xác nhận là có cho anh ta thuê lại với lý do trên nhưng không được sự đồng ý của anh C.
Bên phường kêu là gặp mặt nhau để làm việc nhưng bên ấy không đả động gì và hết lần này lần khác trốn tránh đến ngày 5/8/2016 thì gởi thêm giấy với nội dung là sau cuộc họp ngày 31/7 (không hề có cuộc họp nào ngày đó) tôi đã vi phạm hợp đồng 2 tháng không đóng là tháng 7, 8 nên buộc phải di dời. Tôi có tham khảo bạn bề về trường hợp này và có dấu hiệu lừa đảo vì cơ bản anh ta không được phép cho tôi thuê nhưng vẫn cho và tôi vẫn đóng tiền đầy đủ. Bên cạnh đó, anh ta cố tình tránh mặt tôi khi hết lần này lần khác không chịu gặp và giải quyết. Trong hợp đồng ghi rõ là anh ta bảo đảm mặt bằng không tranh chấp nhưng đó là sai vì về cơ bản anh ta không hề có quyền hành nào trên mặt bằng đó. Vì phiên họp ngày 5/8 có mặt chủ nhà đã xác nhận không hề biết anh ta là ai và "chị A cho a ta thuê nhưng chưa được sự đồng ý của tôi".
Vậy xin hỏi luật sư:
Hiện tại tôi cần làm gì để lấy lại công bằng. Rõ ràng đây là hành động lừa đảo vì nếu anh ta không có ý vậy tại sao không cho tôi thuê trực tiếp hay giới thiệu tôi với chủ nhà hoặc đưa ra các giấy tờ kèm them hợp đồng.Vì lúc đó tôi hỏi nhưng anh ta nói là bảo đảm và ok "vì chị A là bạn chủ nhà nên bảo đảm việc đó". Thế nhưng sự thật là chị A chỉ là cho anh ta thuê lại để gửi xe chứ không kinh doanh và hợp đồng giữa chị A và anh ta không hề cho phép hay đề cập về vấn đề cho thuê bên thứ 4 và lại không thấy (chỉ là lời nói) và lại không công chứng. Vậy rất mong luật sư tư vấn về vấn đề này và tôi cần phải làm gì để được đền bù thỏa đáng và các bước tiến hành tố tụng ?
Xin cảm ơn luật sư rất nhiều!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến gọi: 1900.0159

Trả lời:

Theo như bạn nhận định thì hành vi của anh ta là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009:

"Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ coi là hoàn thành khi: Hành vi chiếm đoạt xảy ra; Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp; Người phạm tôi biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Tuy nhiên, vì bạn không nói rõ số tiền bạn bị anh ta lừa đảo là bao nhiêu nên chúng tôi không có căn cứ để xác định mức phạt đối với anh ta. Đồng thời để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bạn có thể làm đơn tố cáo đến cơ quan công an nơi người đó đang cư trú để được giải quyết. Cơ quan công an sẽ giúp bạn điều tra, làm rõ vụ việc này.

Hình thức tố cáo tại Điều 19 Luật tố cáo 2011 quy định:

"Điều 19. Hình thức tố cáo

1. Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn tố cáo hoặc tố cáo trực tiếp.

2. Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

3. Trường hợp người tố cáo đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo viết đơn tố cáo hoặc người tiếp nhận ghi lại việc tố cáo bằng văn bản và yêu cầu người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận vào văn bản, trong đó ghi rõ nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều này. Trường hợp nhiều người đến tố cáo trực tiếp thì người tiếp nhận hướng dẫn người tố cáo cử đại diện để trình bày nội dung tố cáo".

Trường hợp tố cáo được thực hiện bằng đơn thì trong đơn tố cáo phải ghi rõ ngày, tháng, năm tố cáo; họ, tên, địa chỉ của người tố cáo; nội dung tố cáo. Đơn tố cáo phải do người tố cáo ký tên hoặc điểm chỉ. Trường hợp nhiều người cùng tố cáo bằng đơn thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của từng người tố cáo, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tố cáo; họ, tên người đại diện cho những người tố cáo để phối hợp khi có yêu cầu của người giải quyết tố cáo.

Tham khảo: Mẫu đơn tố cáo

Ngoài ra, bạn có thể gửi đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân cấp huyện nơi người đó cư trú để yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quyền khởi kiện vụ án

Theo Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Điều 186. Quyền khởi kiện vụ án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình".

Về hình thức, nội dung đơn khởi kiện quy định tại Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

"Điều 189. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện

1. Cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.

2. Việc làm đơn khởi kiện của cá nhân được thực hiện như sau:

a) Cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, cá nhân đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

b) Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện hợp pháp của họ có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ nơi cư trú của người khởi kiện trong đơn phải ghi họ tên, địa chỉ nơi cư trú của người đại diện hợp pháp của cá nhân đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp đó phải ký tên hoặc điểm chỉ;

c) Cá nhân thuộc trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản này là người không biết chữ, người khuyết tật nhìn, người không thể tự mình làm đơn khởi kiện, người không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì có thể nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện và phải có người có đủ năng lực tố tụng dân sự làm chứng. Người làm chứng phải ký xác nhận vào đơn khởi kiện.

3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp.

4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện.

5. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Trường hợp vì lý do khách quan mà người khởi kiện không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì họ phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm. Người khởi kiện bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án".

Bạn cần thực hiện đúng theo quy định pháp luật về hình thức và nội dung đơn khởi kiện. Kèm theo đơn khởi kiện phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp của bạn. Trường hợp vì lý do khách quan mà không thể nộp đầy đủ tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện thì phải nộp tài liệu, chứng cứ hiện có để chứng minh quyền, lợi ích hợp pháp. Bạn bổ sung hoặc giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ khác theo yêu cầu của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án.

Vấn đề gửi đơn khởi kiện đến Tòa án tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 190. Gửi đơn khởi kiện đến Tòa án

1. Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này".

Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ quy định tại Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

"Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết".

Vì vậy, yêu cầu của bạn với anh ta là hoàn toàn hợp pháp nên bạn có thể làm đơn khởi kiện đòi lại tiền và các khoản thiệt hại tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú để yêu cầu bị đơn thành toán. Bạn phải gửi kèm theo đơn khởi kiện những tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ, hợp pháp. Cụ thể, trong trường hợp của bạn thì hồ sơ khỏi kiện bao gồm: Đơn khởi kiện (theo mẫu); Bản photo công chứng chứng minh nhân dân của bạn; Bản photo giấy (khi nào Tòa án yêu cầu trình các chứng cứ chứng minh việc anh ta cho bạn thuê nhà để kinh doanh là trái pháp luật thì mới trình bản gốc cho Tòa xem).

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Bị lừa tiền qua facebook thì phải làm gì ? Làm sao để tố cáo khi bị lừa đảo