1. Những trường hợp nào công an được kiểm tra nhà nghỉ, khách sạn?

Kinh doanh trong lĩnh vực nhà nghỉ và khách sạn đặc trưng là hoạt động cung cấp dịch vụ lưu trú. Theo quy định tại Phụ lục IV của Luật Đầu tư 2020, kinh doanh dịch vụ lưu trú thuộc ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Nghị định 90/2016/NĐ-CP, tại Điều 50, đã quy định các quy tắc kiểm tra đối với hoạt động kinh doanh nhà nghỉ, khách sạn như sau:

- Kiểm tra định kỳ: Cơ quan Công an có thẩm quyền sẽ thực hiện kiểm tra và thanh tra toàn diện về việc tuân thủ các quy định về an ninh và trật tự đối với các cơ sở kinh doanh trong nhóm ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Thực hiện theo phương thức định kỳ, không thường xuyên hơn một lần trong một năm.

- Kiểm tra đột xuất: Kiểm tra và thanh tra đột xuất chỉ được tiến hành trong các trường hợp sau đây:

   + Khi phát hiện có vi phạm hoặc dấu hiệu vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự tại cơ sở kinh doanh.

   + Khi có đơn khiếu nại hoặc tố cáo từ tổ chức hoặc cá nhân về vi phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự tại cơ sở kinh doanh.

   + Khi phục vụ cho việc tăng cường công tác đảm bảo an ninh, trật tự theo hướng dẫn văn bản của cơ quan có thẩm quyền.

 

2. Người dân có phải chứng minh không mua bán dâm khi vào nhà nghỉ không?

Điều 3, khoản 1 của Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (được sửa đổi, bổ sung vào năm 2020) đã quy định rằng: Người có thẩm quyền xử phạt có trách nhiệm chứng minh vi phạm hành chính. Cá nhân, tổ chức bị xử phạt có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp chứng minh mình không vi phạm hành chính.

Dựa trên quy định này, nghĩa vụ chứng minh vi phạm hành chính, như mua, bán dâm, đều thuộc về người có thẩm quyền xử phạt. Cá nhân bị xử phạt có quyền chứng minh rằng họ không vi phạm hành chính và không có nghĩa vụ phải tự chứng minh ngược lại.

Do đó, trong trường hợp công an kiểm tra hành vi mua, bán dâm tại nhà nghỉ, khách sạn, người dân không có nghĩa vụ chứng minh mình không thực hiện hành vi mua, bán dâm. Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh về có hay không hành vi mua, bán dâm thuộc về cơ quan có thẩm quyền xử phạt.

Do đó, nếu muốn xử phạt bạn trong trường hợp mua hoặc bán dâm, cơ quan có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm chứng minh vi phạm. Bạn không phải chứng minh rằng mình không vi phạm. Tuy nhiên, bạn vẫn được quyền chứng minh để giải quyết sự việc một cách nhanh chóng.

Trong quá trình xử lý hình sự, theo Điều 15 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền, nhưng không buộc phải chứng minh rằng mình vô tội.

Do đó, nếu có dấu hiệu của tội phạm, nghĩa vụ chứng minh vẫn thuộc về cơ quan tố tụng và bạn không phải chứng minh mình không vi phạm.

Tuy nhiên, thường thì bạn có thể giải quyết nhanh chóng bằng cách trình bày thông tin, chẳng hạn như xuất trình giấy tờ tùy thân tại khách sạn hoặc nhà nghỉ, cung cấp thông tin về quan hệ bạn có với đối tác, như họ tên, nghề nghiệp, quê quán, và nơi ở, để chứng minh sự quen biết không liên quan đến việc sử dụng tiền hay lợi ích vật chất để thực hiện quan hệ tình dục.

Khi công an thực hiện kiểm tra hành chính, cả nam và nữ đều phải xuất trình đầy đủ giấy tờ tùy thân và cung cấp thông tin chi tiết về họ tên, nghề nghiệp, quê quán, nơi ở, v.v. Những thông tin này được sử dụng để chứng minh rằng họ có mối quan hệ quen biết tự nhiên, không liên quan đến việc sử dụng tiền hoặc lợi ích vật chất để đạt được quan hệ tình dục.

 

3. Có thể chứng minh không mua bán dâm khi vào nhà nghỉ thế nào?

Mại dâm, trong đó bao gồm cả hành vi mua dâm và bán dâm, được coi là một loại tệ nạn mà pháp luật quy định cần phải được phòng chống để ngăn chặn những hệ lụy tiêu cực của nó đối với đời sống xã hội. Theo quy định của Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm năm 2003, khái niệm về mua dâm và bán dâm được mô tả như sau:

- Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để nhận được tiền hoặc lợi ích vật chất khác.

- Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trả cho người bán dâm, nhằm mục đích có quyền được giao cấu.

- Mại dâm là hành vi kết hợp giữa mua dâm và bán dâm.

Dựa trên các định nghĩa trên, yếu tố quyết định việc xác định mua và bán dâm là sự sử dụng tiền hoặc lợi ích vật chất khác để trao đổi việc thực hiện hành vi giao cấu giữa người mua dâm và người bán dâm.

Trong thực tế, nhà nghỉ thường là địa điểm chủ yếu cho các hoạt động mua dâm và bán dâm trong thời điểm hiện tại. Do đó, cơ quan Công an địa phương liên tục tăng cường hoạt động thanh tra và kiểm tra các nhà nghỉ trên địa bàn để đảm bảo an ninh trật tự.

Các cơ quan Công an sẽ xác định hành vi mua, bán dâm dựa trên các yếu tố như thông tin cá nhân và lời khai của người bị kiểm tra. Trong trường hợp bạn và người yêu vào nhà nghỉ và công an thực hiện kiểm tra, bạn có thể chứng minh rằng không có hành vi mua bán dâm bằng cách khai báo và xuất trình giấy tờ tùy thân cho lễ tân hoặc quản lý của nhà nghỉ.

Giấy tờ tùy thân cần được xuất trình cho nhà nghỉ bao gồm một trong những loại sau: Giấy chứng minh nhân dân, Căn cước công dân, Hộ chiếu, Thẻ thường trú/Thẻ tạm trú (đối với người nước ngoài), hoặc các giấy tờ có ảnh được cấp bởi các cơ quan quản lý nhà nước Việt Nam.

Đồng thời, cả hai bên cũng cần cung cấp các chứng cứ khác như họ tên, nghề nghiệp, quê quán, nơi ở để chứng minh mối quan hệ của họ với nhau.

 

4. Hành vi mua dâm, bán dâm bị phạt thế nào?

Mức phạt đối với hành vi mua dâm như sau:

- Phạt tiền trong khoảng 01 - 02 triệu đồng đối với hành vi mua dâm.

- Phạt tiền từ 02 - 05 triệu đồng khi có hành vi mua dâm đối với 02 người trở lên cùng một lúc.

- Ngoài ra, theo Điều 24 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP, hình thức xử phạt bổ sung còn bao gồm tịch thu tang vật liên quan đến hành vi vi phạm hành chính.

Mức phạt đối với hành vi bán dâm được quy định như sau:

- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng đối với hành vi bán dâm.

- Phạt tiền từ 01 - 02 triệu đồng khi có hành vi bán dâm đối với 02 người trở lên cùng một lúc.

- Theo Điều 25 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP, trong trường hợp là người nước ngoài, hình thức xử phạt bổ sung bao gồm tịch thu tang vật vi phạm hành chính và có thể bị trục xuất.

- Ngoài ra, biện pháp khắc phục hậu quả được quy định trong Điều 25 của cùng nghị định này bao gồm buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do hành vi bán dâm.

Các hành vi khác liên quan đến mua dâm và bán dâm sẽ bị phạt theo quy định như sau (theo Điều 26 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP):

- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 - 500.000 đồng đối với hành vi mua, bán khiêu dâm, kích dục.

- Phạt tiền từ 05 - 10 triệu đồng đối với hành vi che giấu, bảo kê cho các hành vi mua, bán dâm.

- Phạt tiền từ 10 - 20 triệu đồng đối với hành vi giúp sức, lôi kéo, xúi giục, ép buộc hoặc cưỡng bức người khác mua, bán dâm.

- Phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng đối với hành vi môi giới mua dâm, bán dâm.

Các nhà nghỉ thực hiện hoạt động kinh doanh, dịch vụ liên quan đến mua dâm, bán dâm sẽ bị phạt theo quy định như sau (theo Điều 27 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP):

- Phạt tiền từ 20 - 30 triệu đồng đối với hành vi sử dụng việc mua, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh.

- Phạt tiền từ 30 - 40 triệu đồng đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ nếu họ chủ động thực hiện hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục trong cơ sở do họ quản lý.

Bài viết liên quan: Quy định của pháp luật về hành vi mua bán dâm ? Chứa gái mại dâm thì bị xử phạt như thế nào ?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!