Luật sư tư vấn:
Hiện nay tệ nạn mua bán dâm đang là vấn đề nhức nhối gây nhiều hệ lụy cho xã hội, xuất hiện bằng nhiều hình thức tinh vi, thủ đoạn gây khó dễ cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc phát hiện và xử lý. Mua bán dâm không những gây nguy hại cho xã hội mà còn cho chính cả những người trong cuộc vì nguy cơ lây lan các bệnh xã hội, HIV/AIDS qua đường tình dục do quan hệ tình dục không an toàn người hoạt động mại dâm thường bị bạo lực, chiếm đoạt tài sản, tiền bạc, bóc lột tình dục; bị kỳ thị, xa lánh, khó tiếp cận với các dịch vụ xã hội…Tệ nạn mại dâm còn làm gia tăng các băng nhóm, tổ chức tội phạm mua bán ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, mua bán người, tổ chức hoạt động mại dâm ở một số địa phương. Hình thành những đường dây mua bán người vì mục đích mại dâm…; tình trạng mua bán phụ nữ, trẻ em vì mục đích mại dâm có chiều hướng gia tăng không chỉ ở trong nước và ngoài nước. Vậy mua, bán mại dâm là gì? Hoạt động mua bán, mại dâm được xử lý ra sao?
1. Thế nào là mua dâm, bán dâm?
Căn cứ tại 1, 2 Điều 3 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003, hành vi mua, bán dâm được quy định như sau:
- Bán dâm là hành vi giao cấu của một người với người khác để được trả tiền hoặc lợi ích vật chất khác.
- Mua dâm là hành vi của người dùng tiền hoặc lợi ích vật chất khác trả cho người bán dâm để được giao cấu.
Đây được coi là hoạt động dùng các dịch vụ tình dục ngoài hôn nhân giữa người mua dâm và người bán dâm (gái mại dâm/mại dâm nam) để trao đổi lấy tiền bạc, vật chất hoặc một số quyền lợi và ưu đãi nào đó.
Nơi mà chứa các dịch mua mua bán dâm có thể là nhà nghỉ, khách sạn, quán karaoke, nhà của khách hàng..... Ngoài ra còn một dạng khác là mại dâm đứng đường, tức là chào mời mua bán dâm trên đường phố. Hầu hết khách mua dâm là nam giới và người bán dâm là nữ giới, tuy vậy người bán dâm và mua dâm có thể thuộc bất kỳ giới tính và thiên hướng tình dục nào. Người bán dâm được gọi là gái mại dâm/mại dâm nam, hoặc dùng từ trung lập là người lao động tình dục. Người bán dâm thường đăng tải hình ảnh nhạy cảm của mình trên các trang mạng xã hội như facebook, các trang page mại dâm khác để nhằm thu hút khách hàng.
Tùy theo văn hóa và luật pháp ở từng quốc gia, mại dâm có thể là hợp pháp hay bất hợp pháp, là một tội phạm cho đến mức là một ngành kinh doanh có quản lý. Đối với Việt Nam hành vi mua, bán dâm là những hành vi bị pháp luật nghiêm cấm và có chế tài xử lý đối với từng loại hành vi.
2. Hình thức xử phạt vi phạm hành chính đối với người mua, bán dâm.
Đối với người bán dâm: Căn cứ Điều 22 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003, người thực hiện hành vi mua dâm bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo hoặc phạt tiền tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cụ thể:
Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua dâm như sau:
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi mua dâm. (Trước đây bị phạt 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng).
- Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng trong trường hợp mua dâm từ 02 người trở lên cùng một lúc.
Đối với người mua dâm: Điều 23 Pháp lệnh phòng, chống mại dâm 2003 quy định hình thức xử lý đối với người bán dâm như sau: Người bán dâm, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc đưa vào cơ sở chữa bệnh. Người bán dâm là người nước ngoài thì tùy theo tính chất mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo, phạt tiền, trục xuất.
Theo Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP, mức xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi bán dâm như sau:
- Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi bán dâm (Trước đây phạt từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng).
- Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng trong trường hợp bán dâm cho 02 người trở lên cùng một lúc.
Ngoài hình thức phạt chính thì người thực hiện hành vi mua dâm, bán dâm còn bị xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật vi phạm hành chính. Riêng đối với hành vi bán dâm, còn áp dụng hình thức trục xuất người nước ngoài. Để khắc phục hậu quả của hành vi trên: người mua, bán dâm buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm bán dâm.
Việc mua, bán dâm thường kèm theo những hành vi khiêu dâm, kích dục hoặc có thể dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực...Những hành vi này cũng được pháp luật đưa ra để xem xét và xử lý, cụ thể tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định mức phạt với các hành vi khác có liên quan đến mua dâm, bán dâm như:
- Đối với hành vi mua, bán khiêu dâm, kích dục: Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng
- Đối với hành vi che giấu, bảo kê cho các hành vi mua dâm, bán dâm: phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng;
- Đối với hành vi giúp sức, lôi kéo, xúi giục, ép buộc hoặc cưỡng bức người khác mua dâm, bán dâm: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng
- Đối với hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm; góp tiền, tài sản để sử dụng vào mục đích hoạt động mua dâm, bán dâm; môi giới mua dâm, bán dâm: phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng;
- Đối với một trong những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín để bảo vệ, duy trì hoạt động mua dâm, bán dâm: phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng
- Đối với hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm, phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng việc mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh.
- Đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục ở cơ sở do mình quản lý: phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng
Ngoài ra còn áp dụng hình thức xử phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 6-12 tháng với các hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm.
3. Người mua, bán dâm có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Ngoài hình thức xử lý vi phạm hành chính nêu trên, người mua dâm còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự, tùy vào tính chất, mức độ vi phạm cụ thể:
Điều 329, Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội mua dâm người dưới 18 tuổi. Trường hợp người mua dâm là khách hàng mua dâm người dưới 18 tuổi, cụ thể:
- Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi (trừ trường hợp giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người dưới 13 tuổi) thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
- Mức phạt tối đa đối với người có hành vi mua dâm người dưới 18 tuổi nêu trên là từ 03 năm đến 07 năm tù giam. Ngoài ra người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Căn cứ tại Điều 148 Bộ luật Hình sự 2015: Người mua dâm người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự, cụ thể:
"Người nào biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền HIV cho người khác, trừ trường hợp nạn nhân đã biết về tình trạng nhiễm HIV của người bị HIV và tự nguyện quan hệ tình dục, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm. Mức phạt cao nhất đối với tội danh này lên đến 07 năm tù giam".
Như vậy, người mua dâm thực hiện hành vi mua dâm với người dưới 18 tuổi hoặc người chưa thành niên hoặc biết mình bị nhiễm HIV nhưng vẫn cố tình lây truyền cho người khác sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự mức xử phạt có thể lên đến 7 năm tùy giam theo quy định.
Còn đối với người bán dâm, Bộ luật Hình sự chưa quy định cụ thể về xử phạt đối với hành vi bán dâm mà chỉ xử phạt vi phạm hành chính tại Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP nêu tại mục 2 trong bài viết.
Nhưng không vì thế mà bỏ qua hành vi sai phạm của người bán dâm, theo đó trong trường hợp người bán dâm biết mình bị nhiễm HIV mà cố ý lây truyền bệnh cho người khác thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 148 Bộ luật Hình sự về tội lây truyền HIV cho người khác. Trong trường hợp người bán dâm còn có hành vi chứa mại dâm, môi giới mại dâm thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 327 Bộ luật Hình sự 2015 về Tội chứa mại dâm hoặc Điều 328 Bộ luật Hình sự 2015 về Tội môi giới mại dâm.
4. Mức phạt hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm?
Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm thường xảy ra ở các dịch vụ quán Karaoke, dịch vụ Massage, dịch vụ. Đây đều là vỏ bọc trá hình của hoạt động mua bán dâm. Bởi lẽ, mua bán dâm là hoạt động có mức thu nhập được gọi cao nhất trong các lĩnh vực, thậm chí các cô gái có thể kiếm trăm triệu mỗi đêm, tuy nhiên đây là hoạt động cấm kinh doanh theo quy định của Luật Đầu tư 2020 và bị xử lý theo quy định tại Điều 7 Nghị định 98/2020/NĐ-CP nên những người mua bán dâm lại chuyển sang hình thức trá hình như trên, cụ thể mức xử phạt đối với hoạt động đầu tư kinh doanh hoạt động mại dâm sẽ bị xử phạt vi phạt hành chính như sau:
Điều 7: Hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh
1. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng đối với hành vi kinh doanh dịch vụ thuộc danh mục ngành, nghề cấm đầu tư kinh doanh.
2. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.
3. Biện pháp khắc phục hậu quả:
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.
Như vậy hoạt động mại dâm tại Việt Nam bị cấm đầu tư kinh doanh nếu đầu tư kinh doanh sẽ bị phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là mức phạt đối với cá nhân còn tổ chức thì mức xử phạt sẽ gấp đôi theo quy định tại Điều 4 Nghị định 98/2020/NĐ-CP được sửa đổi bởi điểm b khoản 1 Điều 3 Nghị định 17/2022/NĐ-CP có hiệu lực kể từ ngày 31/01/2022. Đồng thời, biện pháp xử phạt bổ sung và khắc phục hậu quả là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định.
Vì bị cấm kinh doanh nên các tổ chức, cá nhân thường lợi dung các hoạt động kinh doanh khác nhằm che dấu hoạt động mua bán dâm, vậy hành vi này được xử lý như thế nào? Căn cứ tại Điều 27 Nghị định 144/2021/NĐ - CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn, xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, quy định mức xử phạt hành chính đối với hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm như sau:
Điều 27. Hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm
1. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng việc mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh.
2. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục ở cơ sở do mình quản lý.
3. Hình thức xử phạt bổ sung:
a) Tước quyền sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện về an ninh, trật tự từ 06 tháng đến 12 tháng đối với hành vi quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này;
b) Trục xuất người nước ngoài có hành vi vi phạm quy định tại các khoản 1 và 2 Điều này.
4. Biện pháp khắc phục hậu quả
Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều này.
Có thể thấy, so với Nghị định cũ Nghị định mới vẫn giữ mức phạt tiền đối với hành vi sử dụng việc mua dâm, bán dâm và các hoạt động tình dục khác làm phương thức kinh doanh, tuy nhiên Nghị định mới có đưa thêm hình thức xử phạt đối với người đứng đầu, người đại diện theo pháp luật, người được giao quản lý cơ sở kinh doanh, dịch vụ để xảy ra hoạt động mua dâm, bán dâm, khiêu dâm, kích dục ở cơ sở do mình quản lý với mức phạt tiền từ 30 triệu đến 40 triệu. Ngoài ra còn bổ sung thêm hình phạt bổ sung là trục xuất người nước ngoài. Đối với cá nhân là vậy, còn mức phạt đối với tổ chức được quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định: mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân.
Trên đây là bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến Hình thức xử phạt đối với hành vi lợi dụng kinh doanh, dịch vụ để hoạt động mua dâm, bán dâm. Nếu có vướng mắc liên quan đến vấn đề trên, khách hàng hãy gọi: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn qua tổng đài trực tuyến.