1. Tăng tiền phạt về hành vi mua dâm, bán dâm

Theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình, một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP này là tăng mức xử phạt đối với các hành vi mua dâm, bán dâm áp dụng từ ngày 01/01/2022.

Cụ thể, so với trước đây, Nghị định 144/2021/NĐ-CP quy định về mức phạt hành vi mua, bán dâm như sau:

- Với hành vi mua dâm, Điều 24, Nghị định 144/2021/NĐ-CP đã quy định:

+ Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng đối với hành vi mua dâm (mức phạt tiền trước đây là từ 500.000 đồng đến 01 triệu đồng)

+ Phạt tiền từ 02 triệu đồng đến 05 triệu đồng trong trường hợp mua dâm từ 02 người trở lên cùng một lúc.

- Với hành vi bán dâm, Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ-CP cũng đã quy định rõ: 

+ Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với hành vi bán dâm (Mức phạt trước đây là từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng).

+ Phạt tiền từ 01 triệu đồng đến 02 triệu đồng trong trường hợp nếu bán dâm cho 02 người trở lên cùng một lúc (Mức phạt trước đây là từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng).

Đặc biệt, ngoài hình thức phạt chính, Nghị định 144/2021/NĐ-CP đã thêm hình thức phạt bổ sung tịch thu tang vật vi phạm với các hành vi mua, bán dâm nêu trên.

Trong trường hợp là người nước ngoài vi phạm các hành vi mua, bán dâm nêu trên thì sẽ bị trục xuất. 

Biện pháp khắc phục hậu quả đó là buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện các hành vi vi phạm.

Theo đó, tại Điều 26, Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định về tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã nêu rõ, việc tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là việc sung vào ngân sách nhà nước vật, tiền, hàng hoá, phương tiện có liên quan trực tiếp đến vi phạm hành chính, được áp dụng đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức.

2. Có nên xem mại dâm là một nghề hay không?

Theo Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, ở một số nước, mại dâm được coi là nghề, nhưng đa số các nước trên thế giới coi mại dâm là nghề vi phạm pháp luật, kể cả một số nước phát triển, có tư tưởng rất "thoáng" về quan hệ tình dục như Mỹ (chỉ có bang Nevada xem mại dâm là hợp pháp) và Việt Nam cũng nằm trong nhóm này.

Chính vì vậy “nên hay không nên” hợp pháp hóa mại dâm, là một trong những vấn đề luôn được dư luận quan tâm trong thời gian vừa qua.

Việc xây dựng Luật về mại dâm tiến hành dựa trên quan điểm thể chế hóa quan điểm mại dâm là bất hợp pháp ở Việt Nam. Tuy nhiên, việc xây dựng chính sách, pháp luật về phòng, chống mại dâm sẽ đảm bảo tôn trọng quyền con người, chú trọng các giải pháp mang tính xã hội, nhằm giảm tác hại do hoạt động mại dâm gây ra đối với chính người mại dâm và xã hội, góp phần vào sự ổn định, phát triển của đất nước.

Phòng ngừa và giảm tác hại trong mại dâm là vấn đề đặt lên hàng đầu. Dự luật mới xây dựng khung pháp lý cho việc thực hiện các biện pháp can thiệt giảm hại trong phòng ngừa mại dâm, phòng chống bạo lực trên cơ sở giới đối với người bán dâm.

Luật về mại dâm được xây dựng sẽ tạo cơ chế pháp lý hữu hiệu để huy động xã hội tham gia hỗ trợ, giúp đỡ hoà nhập cộng đồng cho người bán dâm.

Xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu đổi mới thì quan điểm xây dựng luật về mại dâm cần hướng đến dần công nhận mại dâm là một nghề, Nhà nước nên thừa nhận mại dâm và tổ chức quản lý hoạt động mại dâm trong các khu riêng biệt như một số quốc gia lân cận và trên thế giới. Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể quản lý cũng như hạn chế tối đa việc lây nhiễm các bệnh về tình dục.

Tuy vậy, đây là vấn đề cần có đánh giá, nghiên cứu một cách nghiêm túc, thấu đáo. Bởi lẽ, tệ nạn mại dâm là một vấn đề xã hội, để giải quyết cần phải có những biện pháp mang tính xã hội, phù hợp, trong một thời điểm nhất định. Mặt khác giải quyết vấn đề này cần xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều yếu tố như truyền thống văn hóa Việt Nam, phong tục tập quán và ý thức chấp hành pháp luật của người dân...

Trên cơ sở tiếp cận xây dựng luật theo hướng dần công nhận mại dâm là một nghề thì dự thảo luật cần thể hiện được sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước về phòng, chống mại dâm. Các chính sách này trước hết cần xác định việc quản lý mại dâm là trách nhiệm chính của Nhà nước, do vậy Nhà nước cần phải có chính sách đầu tư về kinh phí cho việc xây dựng các khu phố quản lý riêng biệt, dịch vụ y tế... để người hành nghề mại dâm có thể được hoạt động trong sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, cũng cần thể hiện nhất quán quan điểm không khuyết khích phát triển hoạt động này, do đó luật vẫn cần hướng đến các biện pháp phòng, chống mại dâm...

Theo đó, Luật cần có những quy định liên quan đến biện pháp phòng ngừa; cần đưa vào nội dung hỗ trợ phòng chống bạo lực giới, giảm hại và hòa nhập cộng đồng cho người bán dâm...

Trong khi đó, nhiều chuyên gia lại cho rằng, trong điều kiện hiện nay chưa nên bàn đến việc hợp pháp hóa mại dâm hay coi đây là một nghề. Quan điểm phù hợp nhất, hợp lý và có ích nhất là không coi đây là tội hình sự.

Trả lời câu hỏi nên hay không nên hợp pháp hóa mại dâm quả thật rất khó, bởi đây là một vấn đề phức tạp vì liên quan đến phạm trù đạo đức và luật pháp, dù rằng là hai phạm trù riêng nhưng có liên quan mật thiết với nhau. Thực tế, sau nhiều lần tranh cãi thì câu hỏi trên vẫn chưa tìm được lời giải vì tính “nhạy cảm”.

Dù áp dụng biện pháp nào, chúng ta phải thừa nhận mại dâm là một vấn đề hiện hữu trong xã hội. Những người hoạt động mại dâm cũng là những con người và họ có quyền được sống, được bình đẳng đóng góp và hưởng thụ phúc lợi xã hội...  Bởi vậy, các giải pháp cho vấn đề mại dâm cần đạt đến mục tiêu tôn trọng quyền cơ bản của con người, vì giống nòi, vì một dân tộc phát triển khỏe mạnh và không có HIV/AIDS. Vì vậy việc áp dụng các biện pháp tiếp cận giảm tác hại là giải pháp khả thi nhất và mang lại nhiều kết quả trong giai đoạn hiện nay.

3. Tại sao không công khai danh tính người mua bán dâm?

Hiện nay không có quy định cho phép công khai tên tuổi của cả người mua và người bán dâm. Việc công khai danh tính của họ còn vi phạm Hiến pháp 2013, gây ảnh hưởng đến đời sống bí mật riêng tư cá nhân gia đình.

Cụ thể, Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định: Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Vấn đề danh dự, uy tín, nhân phẩm của cá nhân cũng được bảo vệ bởi Điều 34 Bộ luật Dân sự 2015: Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

Hành vi mua bán dâm hiện không bị xử lý hình sự, song sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định 144/2021/NĐ-CP (từ 300.000 đồng đến 5 triệu đồng). Trong khi đó, Điều 72 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định "chỉ công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong các trường hợp vi phạm về an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; dược; khám bệnh, chữa bệnh; lao động... Như vậy, không có quy định công bố về hành vi mua bán dâm nên cơ quan công an cũng như báo chí, tổ chức hoặc cá nhân khác không được quyền công khai quyết định xử phạt và thông tin cá nhân của những người mua bán dâm.

Ngoài ra, tại Nghị định số 119/2020/NĐ-CP ngày 07/10/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 14/2022/NĐ-CP) cũng quy định xử phạt hành vi tiết lộ bí mật đời tư của cá nhân nhưng không được sự đồng ý của cá nhân đó tại điểm i Khoản 3 Điều 8 với mức phạt tiền 20-40 triệu đồng đối với tổ chức; cá nhân vi phạm sẽ chịu mức phạt tiền bằng 1/2 mức quy định và buộc cơ quan báo chí xin lỗi, gỡ bỏ thông tin vi phạm đã đăng, phát.

Việc công khai thông tin cá nhân hoặc hình ảnh không chỉ gây ảnh hưởng tiêu cực đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của họ mà còn có khả năng hủy hoại cuộc sống gia đình, đường công danh sự nghiệp. Trên thực tế, không ít gia đình đã tan nát vì có người thân tham gia vào đường dây mua bán dâm, đặc biệt trong thời kỳ công nghệ phát triển như hiện nay thì chỉ cần vài giờ là hình ảnh của người tham gia hoạt động mua bán dâm đã tràn lan khắp các trang mạng xã hội, rồi lan truyền đến đồng nghiệp và người thân trong gia đình.

Nếu muốn ngăn chặn và giảm thiểu đi các trường hợp vi phạm về việc bán dâm thì cơ quan chức năng có thể áp dụng những biện pháp khác như thông báo về đơn vị làm việc của người đó để xem xét kỷ luật tại đơn vị hoặc thông báo về người thân, gia đình để giáo huấn, giúp họ suy nghĩ lại và không tiếp tục hành vi trên.

Xem thêm: Hành vi mua bán dâm thì xử lý như thế nào? Có bị phạt tù không?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tăng tiền phạt về hành vi mua dâm, bán dâm mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!