1. Có phải đậu nành thực sự ảnh hưởng đến nguy cơ bị ung thư vú?
Sữa đậu nành là một sự thay thế sữa thực vật lành mạnh, phù hợp với nhiều chế độ ăn kiêng. Nó tự nhiên chứa ít chất béo và calo hơn so với sữa bò, nhưng lại cung cấp nhiều protein hơn so với các loại sữa thực vật khác như sữa hạnh nhân và sữa yến mạch.
Thực tế cho thấy, đối với những người đang quan tâm đến việc giảm nguy cơ mắc ung thư thông qua chế độ ăn, việc bổ sung thực phẩm chứa đậu nành nguyên chất là một quyết định thông minh. Chuyên gia dinh dưỡng Julieanna Hever (Los Angeles) lý giải rằng: "Thực phẩm đậu nành nguyên chất đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ tái phát và tử vong do ung thư vú ở những người sống sót sau khi đã mắc bệnh ung thư vú, đồng thời giảm nguy cơ mắc ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt."
Một số loại ung thư, ví dụ như ung thư vú phản ứng với hormone, sử dụng estrogen trong quá trình phát triển và lây lan trong cơ thể. Vì vậy, có một số người có thể lo lắng rằng việc tiêu thụ các hợp chất phytoestrogen có trong đậu nành có thể làm tăng hàm lượng estrogen trong cơ thể và thúc đẩy sự phát triển của ung thư vú
Hiện chưa có nghiên cứu nào trên người xác định mối liên hệ giữa việc tiêu thụ đậu nành và nguy cơ mắc bệnh ung thư vú. Thực tế, các nghiên cứu thực hiện trên động vật đã chỉ ra rằng isoflavone, một hợp chất có trong đậu nành, có thể tăng sự phát triển của tế bào ung thư vú và thúc đẩy sự hình thành khối u ung thư vú ở chuột. Tuy nhiên, các kết quả này chỉ được áp dụng cho động vật và không nên được áp dụng trực tiếp cho con người. Các nhà nghiên cứu cũng đã phát hiện rằng cách chuột chuyển hóa đậu nành khác biệt so với con người.
Mặc dù có một số nghiên cứu cho rằng đậu nành có thể giúp bảo vệ chống lại bệnh ung thư vú, nhưng cần tiếp tục tiến hành nhiều nghiên cứu hơn để làm rõ điều này. Ví dụ, một phân tích tổng hợp năm 2014 của nhiều nghiên cứu trên tạp chí PLOS ONE cho thấy đậu nành có thể có tác dụng bảo vệ cơ thể khỏi ung thư vú ở phụ nữ sau thời kỳ mãn kinh ở các nước phương Tây. Tuy nhiên, có cũng có nghiên cứu riêng biệt từ năm 2009 cho thấy rằng đậu nành có khả năng bảo vệ khỏi bệnh ung thư vú.
Trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (JAMA), 5.000 người sống sót sau khi mắc bệnh ung thư vú trong Nghiên cứu về sự sống sót của bệnh ung thư vú ở Thượng Hải và tiêu thụ đậu nành được cho là có nguy cơ tử vong và tái phát bệnh thấp hơn. Hơn nữa, trong một nghiên cứu được công bố trên Tạp chí Dinh dưỡng Lâm sàng Hoa Kỳ, khoảng 73.000 phụ nữ Trung Quốc tham gia Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ Thượng Hải và những người tiêu thụ lượng đậu nành cao liên tục từ thời kỳ thanh thiếu niên đến tuổi trưởng thành được cho là có nguy cơ mắc bệnh ung thư vú thấp hơn đáng kể.
Theo một nghiên cứu trên Tạp chí của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ năm 2013, người đàn ông có nguy cơ tái phát ung thư tuyến tiền liệt có thể có lợi từ việc tiêu thụ 20 gam chất bổ sung đậu nành hòa tan trong đồ uống hàng ngày mà không tạo ra tác dụng phụ nhiều. Nghiên cứu này đánh dấu một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên đầu tiên về hiệu quả của protein đậu nành trong việc giảm tái phát bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Thời gian điều trị bằng đậu nành trong nghiên cứu này là một trong những thời gian dài nhất được ghi nhận, và nghiên cứu này đã chứng minh rằng việc bổ sung protein đậu nành trong 2 năm là an toàn và hiệu quả đối với nam giới
2. Có phải tất cả các loại thực phẩm chế biến từ đậu nành đều làm tăng nguy cơ bị ung thư vú?
Sở dĩ có hiểu lầm về việc tất cả các loại thực phẩm từ đậu nành làm tăng nguy cơ ung thư vú, vì các nhà nghiên cứu phát hiện rằng một số loài động vật gặm nhấm tiêu thụ nhiều thức ăn có chứa hợp chất isoflavone - là hợp chất phổ biến có trong đậu nành, có khả năng mắc ung thư vú cao.
Nguyên nhân khiến isoflavone được cho là làm tăng cao khả năng bị ung thư vú vì chúng hoạt động như estrogen trong cơ thể và estrogen được biết đến là thúc đẩy ung thư vú hình thành và phát triển. Những phụ nữ mắc bệnh ung thư vú được tìm thấy là rất nhạy cảm với estrogen.
Tuy nhiên, cần hiểu rõ là cơ chế tiêu thụ isoflavone ở động vật và con người khác rất khác nhau. Hiện nay, nghiên cứu khẳng định đậu nành làm tăng nguy cơ bị ung thư vú là chưa có. Ngược lại, các nghiên cứu được thực hiện còn cho thấy uống đậu nành hay ăn nhiều đậu nành giúp làm giảm nguy cơ mắc bệnh.
Trên thế giới, phụ nữ châu Á tiêu thụ đậu nành nhiều nhất dưới nhiều dạng thực phẩm khác nhau như đậu phụ, nước tương, sữa, ... Những nghiên cứu được thực hiện cho thấy tỷ lệ bị ung thư vú là rất thấp đối với phụ nữ các nước châu Á. Thậm chí, các chuyên gia còn cho rằng, đậu nành là một phần của chế độ ăn uống lành mạnh.
Ngoài ra, cũng chưa có nhiều nghiên cứu cho thấy tiêu thụ một lượng lớn đậu nành sẽ làm tăng nguy cơ ung thư vú. Tuy nhiên, cũng như bất kỳ một loại thực phẩm nào, nếu ăn hoặc uống quá nhiều đều có thể gây ra một vài vấn đề đối với sức khỏe, đậu nành cũng vậy.
Các chuyên gia khuyến cáo chỉ nên tiêu thụ đậu nành một lượng vừa phải để làm giảm nguy cơ ung thư vú. 1 - 2 khẩu phần thức ăn được chế biến từ đậu nành như đậu phụ, sữa đậu nành nên được tiêu thụ mỗi ngày, vì chúng cung cấp protein cho cơ thể.
3. Nên ăn đậu nành với định lượng thế nào?
Đậu nành là một trong những loại hạt được ưa chuộng chế biến đồ uống, món ăn trong cuộc sống thường ngày. Một trong những lợi ích hàng đầu khi sử dụng đậu nành đúng cách đó chính là hỗ trợ quá trình giảm cân. Một nghiên cứu cho thấy, hạt đậu nành chứa hàm lượng lớn protein và khi dùng đúng cách sẽ giúp cơ thể tăng cường quá trình trao đổi chất, tạo cảm giác nhanh no và no lâu cũng như giúp ngăn ngừa tình trạng béo phì. Bên cạnh đó, hạt đậu nành còn có các genistein đã được chứng minh làm tăng mật độ khoáng xương ở phụ nữ mãn kinh và nhờ đó, xương sẽ trở nên chắc khỏe hơn so với những người không sử dụng loại hạt đậu nành một cách thường xuyên, điều độ và ổn định. Khi sử dụng hạt đậu nành đúng liều lượng, từ 50 - 70gr đậu nành hoặc các sản phẩm từ đậu nành như đậu phụ, tào phớ... sẽ giúp cải thiện được vấn đề tim mạch. Lý do là bởi, đậu nành nguyên chất không chứa cholesterol, lại ít chất béo bão hòa, mang đến nhiều chất xơ rất tốt cho tim mạch.
Theo đó, nếu biết cách sử dụng đúng hàm lượng, đậu nành sẽ mang lại nhiều lợi ích tốt về sức khỏe. Đậu nành cũng có một vài biến chứng phụ nếu dùng với một liều lượng cao, dù những biến chứng này nói chung là không nghiêm trọng. Việc tiêu thụ đậu nành có thể là một phần quan trọng của một chế độ ăn uống lành mạnh và đa dạng. Tuy nhiên, không có một định lượng cụ thể cho việc ăn đậu nành mà phù hợp cho tất cả mọi người, vì nhu cầu dinh dưỡng của mỗi người có thể khác nhau.
Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào trả lời dứt khoát câu hỏi này. Nhưng các dữ kiện khoa học công bố trong thời gian gần đây cho thấy có lẽ dùng khoảng 30-40 mg / ngày (tức khoảng 1 ly sữa đậu nành mỗi ngày) là một liều lượng an toàn. Về thời gian dùng “an toàn”, cũng chưa có câu trả lời rõ ràng, vì hầu hết các nghiên cứu về tác dụng của đậu nành thường rất ngắn hạn, và chúng ta vẫn chưa biết được những biến chứng lâu dài. Tuy nhiên, cho đến nay, trong các sắc dân Á châu dùng đậu nành từ thế hệ này sang thế hệ khác, chưa thấy có biến chứng nguy hiểm nào được báo cáo.
Tăng cường tiêu thụ các sản phẩm như đậu khuôn, hay rau cải cũng nằm trong một chiến lược y tế công cộng của chính phủ nhiều nước Tây phương nhằm giảm tỉ lệ dân số bị bệnh tim mạch, ung thư và loãng xương. Đối với người Việt Nam, các sản phẩm của đậu nành, như đậu khuôn, sữa đậu nành, đậu hủ là những món ăn quen thuộc, và không có lí do gì chúng ta phải từ bỏ nguồn thực phẩm lành mạnh và quan trọng này.
Quý khách có thể xem thêm bài viết liên quan cùng chủ đề như: Lợi ích ấn tượng của hạt đậu nành