1. Cơ quan lập pháp của Trung Quốc
Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (giản thể: 全国人民代表大会; phồn thể: 全國人民代表大會; Hán-Việt: Toàn quốc Nhân dân đại biểu đại hội; bính âm: Quánguó Rénmín Dàibiǎo Dàhuì), viết tắt là Nhân đại Toàn quốc (tiếng Trung: 人大; bính âm: Réndà), là cơ quan quyền lực tối cao, cơ quan lập pháp quốc gia của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, tức Quốc hội. Với 2.980 thành viên tại khóa XIII vào năm 2018, nó là cơ quan nghị viện lớn nhất trên thế giới.
Theo Hiến pháp Trung Quốc, Nhân Đại toàn quốc được cấu trúc như một cơ quan lập pháp đơn viện, với quyền lập pháp, quyền giám sát hoạt động của chính phủ, và quyền bầu cử các viên chức quan trọng của nhà nước. Dù đại biểu phần lớn vẫn do Đảng Cộng sản Trung Quốc quyết định, kể từ đầu thập niên 1990, cơ quan này đã bớt là cơ quan hình thức và không có quyền lực; và đã trở thành một diễn đàn dàn xếp các khác biệt về chính sách giữa các bộ phận khác nhau của đảng và chính quyền. Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc cũng là diễn đàn để các dự luật được tranh luận trước khi được thông qua. Cơ quan thường trực của Nhân đại Toàn quốc là Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Người đứng đầu cơ quan này, đồng thời cũng là người đứng đầu Nhân đại Toàn quốc, được gọi là Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, tức Chủ tịch Quốc hội. Nhân Đại toàn quốc, cùng với Nhân Đại địa phương ở các cấp hợp thành "chế độ Đại hội đại biểu nhân dân" của Trung Quốc.
Trung Quốc hiện có 2 văn bản pháp luật liên quan vấn đề này, bao gồm "Luật Lập pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" (ban hành ngày 01/7/2000, sửa đổi ngày 15/3/2015) và "Điều lệ quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính Trung Quốc" (được thực hiện lần đầu từ ngày 1/1/2002, sửa đổi ngày 22/12/2017, có hiệu lực kể từ ngày 1/5/2018). Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để cơ quan chức năng Trung Quốc xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật. Đại sứ quán báo cáo một số nội dung đáng chú ý như sau:
2. Đầu mối phụ trách hoạt động lập pháp
- Công tác lập pháp của Trung Quốc do Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc (Nhân đại) chịu trách nhiệm. Ủy ban chuyên môn của Nhân đại, cơ quan công tác của Ủy ban thường vụ Nhân đại có thể tham gia vào công tác soạn thảo các dự thảo luật. Luật Lập pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sửa đổi năm 2015 đã bổ sung thêm nội dung trao quyền lập pháp cho thành phố có đặt quận, quy định thành phố có đặt quận có thể xây dựng văn bản pháp quy có tính địa phương về "xây dựng và quản lý thành phố và nông thôn, bảo vệ môi trường, bảo vệ văn hóa lịch sử". Điều này giúp mở rộng phạm vi quyền lập pháp của các thành phố có đặt quận. Ngoài ra, Luật Lập pháp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa" sửa đổi năm 2015 đã xác định rõ: "Việc xác định các loại thuế, xác định mức thu thuế và các chế độ cơ bản thu thuế như quản lý thu thuế…" chỉ có thể do pháp luật quy định; tức là, việc thu thuế gì, thu thuế của ai, thu thuế bao nhiêu, thu như thế nào, đều cần thông qua cơ quan lập pháp Nhân đại quyết định.
- Việc ban hành các văn bản pháp quy hành chính do Quốc vụ viện Trung Quốc phụ trách. Dự thảo văn bản pháp quy hành chính do Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện xem xét hoặc do Quốc vụ viện xem xét phê chuẩn. Khi Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện xem xét dự thảo văn bản pháp quy, cơ quan pháp chế Quốc vụ viện hoặc đơn vị soạn thảo có trách nhiệm giải trình nội dung.
3. Quy trình lập pháp của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc
- Bước 1: Đề xuất xây dựng luật
Điều 14 "Luật Lập pháp" quy định: Đoàn Chủ tịch Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Quốc vụ viện, Ủy ban Quân sự Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, các Ủy ban chuyên trách của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc có thể đề xuất xây dựng luật với Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.
Điều 15 "Luật Lập pháp" quy định: Một đoàn đại biểu hoặc một nhóm từ 30 đại biểu trở lên, có thể đề xuất dự án luật với Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Việc này do Đoàn Chủ tịch quyết định có đưa vào chương trình nghị sự hay không, hoặc trình các Ủy ban chuyên trách liên quan thẩm định trước, đề xuất ý kiến có đưa vào chương trình nghị sự hay không, sau đó mới quyết định việc có đưa vào chương trình nghị sự hay không.
- Bước 2: Thẩm định, xem xét dự thảo luật
Giai đoạn này có thể công bố dự thảo, lấy ý kiến trước khi đưa vào chương trình nghị sự của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc. Các Ủy ban chuyên trách khi thẩm định, xem xét dự án luật gặp phải các vấn đề có tính chuyên môn có thể mời chuyên gia và đại biểu có liên quan tham gia hội nghị để lắng nghe ý kiến.
Điều 16 "Luật Lập pháp" quy định: Ủy ban thường vụ dựa theo các quy định thẩm định dự án luật, cần thông qua nhiều hình thức để lấy ý kiến rộng rãi của các đại biểu Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, đồng thời cho ý kiến phản hồi về tình hình liên quan. Cơ quan của Ủy ban chuyên trách và Ủy ban thường vụ tiến hành công tác nghiên cứu lập pháp, có thể mời các đại biểu có liên quan của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc tham gia.
Điều 17 "Luật Lập pháp" quy định: Ủy ban thường vụ quyết định trình hội nghị Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc thẩm định, xem xét dự thảo luật, cần gửi dự thảo luật cho các đại biểu trước ngày tổ chức hội nghị 1 tháng.
- Bước 3: Biểu quyết dự án luật
Bỏ phiếu thông qua bằng hình thức biểu quyết kín (bấm nút). Các dự án luật thông thường cần nhận được trên một nửa số đại biểu tham dự Hội nghị toàn thể hoặc Ủy viên Ủy ban thường vụ đồng ý mới được thông qua, việc sửa đổi Hiến pháp cần được 2/3 số đại biểu trở lên đồng ý mới được thông qua.
- Bước 4: Công bố luật
Sau khi luật được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc hoặc Ủy ban thường vụ thông qua sẽ do Chủ tịch nước công bố ban hành.
4. Quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính của Trung Quốc
- Bước 1: Đề xuất xây dựng văn bản pháp quy
Điều 66 "Luật Lập pháp" quy định: Cơ quan pháp chế Quốc vụ viện Trung Quốc cần dựa vào công tác tổng thể của Nhà nước để định ra kế hoạch lập pháp hàng năm của Quốc vụ viện, báo cáo Quốc vụ viện xem xét phê duyệt. Các dự án luật trong Kế hoạch lập pháp hàng năm của Quốc vụ viện cần khớp với Quy hoạch lập pháp và Kế hoạch lập pháp hàng năm của Ủy ban thường vụ Nhân đại toàn quốc.
Điều 6 "Điều lệ quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính" Trung Quốc quy định: Quốc vụ viện xây dựng Kế hoạch công tác lập pháp vào dịp đầu năm.
Điều 7 "Điều lệ quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính" Trung Quốc quy định: Nếu các ban ngành liên quan của Quốc vụ viện nhận thấy cần ban hành các pháp quy hành chính, cần báo cáo lên Quốc vụ viện để đưa vào kế hoạch trước khi Quốc vụ viện xây dựng kế hoạch công tác lập pháp hàng năm vào đầu năm.
- Bước 2: Soạn thảo văn bản pháp quy
Điều 67 "Luật Lập pháp" quy định: Các ban ngành liên quan của Quốc vụ viện hoặc cơ quan pháp chế của Quốc vụ viện chịu trách nhiệm soạn thảo các văn bản pháp quy hành chính. Cơ quan pháp chế của Quốc vụ viện tổ chức soạn thảo các văn bản pháp quy hành chính quan trọng. Trong quá trình soạn thảo, cần lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan liên quan, tổ chức, Đại biểu Nhân đại và cộng đồng xã hội. Việc lấy ý kiến có thể áp dụng nhiều hình thức như tọa đàm, chất vấn, phản biện. Dự thảo văn bản pháp quy hành chính cần được công khai, lấy ý kiến rộng rãi, trừ những văn bản pháp quy hành chính mà Quốc vụ viện quyết định không công khai.
Điều 10 "Điều lệ quy trình ban hành pháp quy hành chính" Trung Quốc quy định: Kế hoạch công tác lập pháp hàng năm của Quốc vụ viện xác định một hoặc vài ban ngành của Quốc vụ viện chịu trách nhiệm soạn thảo, cũng có thể xác định cơ quan pháp chế của Quốc vụ viện soạn thảo hoặc tổ chức soạn thảo.
- Bước 3: Xem xét phê duyệt
Điều 68 "Luật Lập pháp" quy định: Sau khi hoàn thành công tác soạn thảo văn bản pháp quy hành chính, đơn vị soạn thảo cần gửi dự thảo và các ý kiến đóng góp cùng các tài liệu liên quan về các vấn đề chính của dự thảo để cơ quan pháp chế Quốc vụ viện tiến hành thẩm duyệt. Cơ quan pháp chế Quốc vụ viện cần trình báo cáo thẩm duyệt và dự thảo sửa đổi lên Quốc vụ viện. Báo cáo xem xét, phê duyệt cần làm rõ các vấn đề chính của dự thảo.
Điều 17 "Điều lệ quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính" Trung Quốc quy định: Cơ quan pháp chế của Quốc vụ viện chịu trách nhiệm xem xét, phê duyệt các dự thảo văn bản pháp quy hành chính trình lên Quốc vụ viện.
- Bước 4: Ra quyết định và công bố
Điều 70 "Luật Lập pháp" quy định: Văn bản pháp quy hành chính do Thủ tướng thay mặt Quốc vụ viện ký và công bố. Văn bản pháp quy hành chính liên quan đến xây dựng Quốc phòng, có thể do Thủ tướng Quốc vụ viện và Chủ tịch Quân ủy Trung ương cùng thay mặt Quốc vụ viện, Quân ủy Trung ương ký và công bố.
Điều 71 "Luật Lập pháp" quy định: Sau khi ký và công bố các văn bản pháp quy hành chính, cần kịp thời đăng tải lên phần Thông báo của Quốc vụ viện và mạng Thông tin pháp chế của Chính phủ Trung Quốc cũng như trên các báo giấy phát hành trên phạm vi toàn quốc. Lấy văn bản pháp quy hành chính đăng trên Thông báo của Quốc vụ viện làm văn bản chuẩn.
Điều 26 "Điều lệ quy trình ban hành văn bản pháp quy hành chính" Trung Quốc quy định: Dự thảo văn bản pháp quy hành chính do Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện thảo luận, xem xét, hoặc do Quốc vụ viện phê chuẩn. Khi Hội nghị thường vụ Quốc vụ viện thảo luận xem xét dự thảo pháp quy, cơ quan pháp chế Quốc vụ viện hoặc cơ quan soạn thảo chịu trách nhiệm giải trình rõ nội dung.
5. Ủy quyền Lập pháp ở Trung Quốc
Luật lập pháp của Trung Quốc quy định, Quốc hội (tên chính thức là Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc) hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thể ủy quyền cho Chính phủ tùy yêu cầu của tình hình thực tế mà ban hành văn bản pháp quy hành chính về các vấn đề đó, trừ các vấn đề liên quan đến tội phạm và hình phạt, biện pháp cưỡng chế và chế tài tước quyền lợi chính trị hoặc hạn chế quyền tự do của công dân và hệ thống tư pháp. Quyết định ủy quyền phải nêu rõ mục đích, nội dung, phạm vi và thời hạn ủy quyền, các nguyên tắc mà cơ quan được ủy quyền phải tuân thủ và các vấn đề khác. Cơ quan được ủy quyền phải thực hiện quyền hạn theo đúng mục đích và phạm vi ủy quyền. Thời hạn ủy quyền không quá 5 năm, trừ trường hợp có quy định khác trong quyết định ủy quyền. Trước khi hết thời hạn ủy quyền 6 tháng, cơ quan được ủy quyền phải báo cáo việc thực hiện quyết định ủy quyền cho cơ quan ủy quyền và kiến nghị về việc có ban hành luật có liên quan hay không; nếu việc gia hạn ủy quyền là cần thiết thì có thể đề nghị gia hạn ủy quyền để Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định. Cơ quan được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan khác. Sau khi văn bản pháp quy hành chính được ban hành theo ủy quyền đã được kiểm nghiệm trong thực tế và khi đủ điều kiện để ban hành luật để quy định về vấn đề đó thì Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội phải kịp thời ban hành luật. Quyết định ủy quyền nói trên hết hiệu lực ngay sau khi luật được ban hành.