1. Nguyên nhân, diễn biến của nội chiến Trung Quốc năm 1946-1949

1.1. Nguyên nhân

Cuối tháng 8/1945 với sự giúp đỡ của Hồng quân Liên Xô đã chuyển giao vùng Đông Bắc - vùng công nghiệp có vị trí chiến lược quan trọng cho Đảng cộng sản và chính quyền cách mạng quản lý, trao lại toàn bộ vũ khí đã chiếm được của hơn 1 triệu quân Quan Đông Nhật Bản cho quân Giải Phóng Trung Quốc và quân Đồng Minh, cùng sự nỗ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc Dân Đảng, cuộc kháng chiến chống Nhật Bản của nhân dân Trung Quốc kéo dài nhiều năm đã giành được thắng lợi. Tháng 9/1945 Nhật Bản tuyên bố đầu hàng quân Đồng minh vô điều kiện.

Sau khi phát xít Nhật tuyên bố đầu hàng, lợi dụng danh nghĩa quân Đồng Minh tiếp quản, tập đoàn Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu đã gấp rút vận chuyển quân lính  từ vùng hậu phương Tây Nam đến chiếm nhiều ngân hàng, xí nghiệp công nghiệp và tài sản thương nghiệp quốc gia mà Nhật chiến giữ trước đây, thậm chí chúng còn vô lý hạ lệnh quân giải phóng "phải đóng nguyên tại chỗ chờ lệnh". Đồng thời quân Tưởng còn cho phép quân Nhật, nguỵ quân, nguỵ quyền được "duy trì trật tự an ninh ở địa phương". Ở nhiều nơi, những tên Hán gian và quân đội tay sai của Phát xít Nhật trước kia trở lại thành quan, quân của Tưởng. 

Nền thống trị độc tài quân phiệt của tập đoàn tư bản quan kiêu đại diện cho quyền lợi của địa chủ phong kiến và tư sảnmaij bản được thiết lập ở những vùng quân Tưởng chiếm đóng ra sức vơ vét, bóc lột tài sản của nhân dân. Tới tháng 4/1946 chúng đã chiếm trên 80% tổng số tư bản sản nghiệp trong toàn quốc, nắm 2/3 số ngân hàng cả nước và số tài sản trị giá 20 tỷ USD. Đi đôi với sự những nhiễu về kinh tế, Tưởng câu kết chặt chẽv với Mỹ  để tranh thủ viện trợ. Tưởng cho phép Mỹ đầu tư vaof tất cả các xí nghiệp, hầm mỏ, nhà máy, cho hàng hoá Mỹ độc chiếm thị trường, cho phép Mỹ xây dựng các căn cứ quân sự trên đất Trung Hoa.

Đồng thời, trong thời gian này, cách mạng Trung Quốc do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo đã có nhiều sự biến đổi quan trọng. Lực lượng quân đội phát triển nhanh chóng với 120 nghìn người dân quân 200 nghìn người, vùng giải phóng được mở rộng gồm 19 khu căn cứ chiếm 1/4 đất đai, 1/3 dân số cả nước. Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành hoà bình, độc lập dân tộc. Nhờ vận dụng linh hoạt đường lối chiến tranh, nhân dân, Đảng Cộng Sản và Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dần giành lại thế chủ động. Đây là những yếu tố quan trọng thuận lợi để Đảng cộng sản Trung Quốc tiến hành cuộc đấu tranh, giành hoà bình dân chủ sau khi kháng chiến kết thúc.

Tháng 10/1945 Đảng Cộng Sản Trung Quốc và Quốc dân Đảng kí hiệp ước chấm dứt nội chiến và triệu tập hội nghị chính trị hiệp thương để xây dựng lại đất nước. Mặc dù đã tiến hành hội nghị hiệp thương nhưng tập đoàn Tưởng Giới Thạch- với sự "chống lưng" của Mỹ vẫn gấp rút chuẩn bị nội chiến nhằm tiêu diệt Đảng Cộng sản và phong trào cách mạng thế giới.

 

1.2. Diễn biến cuộc nội chiến

Tháng 3/1946 Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Quốc dân Đảng đã tuyên bố không công nhận kết quả của Hội nghị Hiệp Thương chính trị.

Giai đoạn 1: Từ 7/1946 đến tháng 6/1947

Tháng 7/1946 Mỹ giúp Quốc Dân Đảng phát động cuộc nội chiến với âm mưu biến Trung Quốc thành thuộc địa kiểu mới, đồng loạt tấn công vào các vùng giải phóng do Đảng Cộng sản kiểm soát. Cuối năm 1946 Đảng Cộng sản tiếp tục tổ chức các lực lượng nông dân trong các vùng mới giải phóng giành lại ruộng đất từ tay phong kiến, địa chủ, bước đầu thực hiện nền dân chủ mới. Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã thực hiện phòng ngự tích cực, không giữa đất đai chủ yếu tiêu diệt sinh lực địch và xây dựng lực lượng. Kết quả tiêu diệt 1.112.000 quân chủ lực Quốc dân đảng và lực lượng cách mạng lên tới 2 triệu người.

Giai đoạn 2: Từ tháng 6/1947 đến tháng 10/1949 giai đoạn quân giải phóng phản công

Từ tháng 7 tới tháng 9 năm 1947 Quân Giải phóng đã chuyển từ thế phòng ngự sang phản công trên quy mô cả nước, tiến quân vào các cùng do Quốc dân Đảng thống trị.Mở đầu cuộc phản công, ngày 30/6/1947 quân giải phóng vượt sông Hoàng Hà, tiến vào vùng Đại Biệt Sơn, khôi phục và phát triển khu giải phóng Trung Nguyên, các lực lượng cách mạng ở Đông Bắc, Tây Bắc, Hoa Đông lần lượt chuyển từ thế phòng thủ sang tiến công.Từ tháng 9/1948 đến tháng 1/1949 mở 3 chiến dịch Liêu Thẩm, Hoài Hải, Bình Tân các cùng Liêu Ninh, Thẩm Dương, Thiên Tân lần lượt được giải phóng. Sau hơn 4 tháng liên tục mở các chiến dịch giải phóng đã tiêu diệt 144 sư đoàn chính quy, 29 sư đoàn không chính quy, bao gồm 1.540.000 quân tinh nhuệ của Tưởng Giới Thạch. Quân cách mạng đã kiểm soát vùng Đông Bắc, các khu vực phía Bắc, trung và hạ lưu sông Dương Tử, giải phóng 200 triệu dân, nắm giữ các cơ sở công nghiệp chiến tranh ở các tỉnh Đông Bắc Trung Quốc.

Tháng 4 năm 1949 quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc vượt sông Trường Giang tấn công vào sào huyệt của Quốc dân Đảng. Ngày 23/4 trung tâm thống trị của tập đoàn Tưởng Giới Thạch đã được giải phóng, nền thống trị của Tưởng Giới Thạch sụp đổ.

Từ ngày 21 đến 30/9/1949 Hội nghị chính trị hiệp thương được triệu tập tại Bắc Kinh để thông qua Cương lĩnh chung, bầu Hội đồng Chính phủ do Mao Trạch Đông làm chủ tịch. Hội đồng cử Chu Ân Lai làm Thủ tướng Quốc vụ viện đồng thời là Bộ trưởng bộ Ngoại giao. Ngày 1/10/1949 nước Cộng hoà Nhân Dân Trung Hoa chính thức được thành lập, cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc hoàn toàn thắng lợi.

 

2. Ý nghĩa cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc giành thắng lợi

Cuộc cách mạng dân tộc dân chủ Trung Quốc là một trong những sự kiện quan trọng trọng của lịch sử thế giới sau chiến tranh thế giới thứ 2. Đối với nhân dân Trung Quốc, thắng lợi này  đã hoàn thành chấm dứt hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc. Xoá bỏ tàn dư phong kiến, mở ra kỉ nguyên độc lập tự do, tiến lên CNXH.

Tăng cường lực lượng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới, giúp chủ nghĩa xã hội nối liền từ Châu Âu sang Châu Á. Ảnh hưởng sâu sắc đến phong trào giải phóng dân tộc thế giới.

 

3. Tính chất của cuộc nội chiến Trung Quốc 1946-1949

Mặc dù cuộc Cách mạng diễn ra dưới hình thức nội chiến giữa hai đảng phái- đại diện cho hai lực lượng chi phối đời sống chính trị-xã hội Trung Quốc là Đảng Cộng sản và Quốc dân Đảng.

Đảng Cộng Sản là chính đảng của giai cấp công nhân Trung Quốc, đại diện cho quyền lợi của giai cấp công nhân và các tầng lớp nhân dân Lao động Trung Quốc. 

Quốc dân Đảng là chính đảng của giai cấp tư sản, do Tưởng Giới Thạch đứng đầu, đại diện cho quyền lợi của tư sản, phong kiến, từng bước thực hiện chính sách phản động đi ngược lại quyền lợi của quần chúng nhân dân và lợi ích dân tộc. Vì quyền lợi giai cấp đã sẵn sàng cấu kết với Mĩ đang muốn can thiệp và đưa Trung Quốc vào vòng nô dịch.

Do đó việc Đảng Cộng Sản đánh đổ sự thống trị của Quốc dân Đảng thực tế là đánh đổ giia cấp phong kiến, tư sản đế quốc can thiệp, nghĩa là thực hiện nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ đang đặt ra đối với Trung Quốc sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chông Nhật. Do đó tính chất của cuộc nội chiến Trung Quốc đó là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ.

 

4. Một số bài tập củng cố

Câu 1: Nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam trong thời gian?

A. 18/1/1951

B. 18/11/1951

C. 11/8/1951

D. 18/1/1950

Câu 2: Ý nghĩa quốc tế về sự ra đời của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa là:

A. Kết thúc hơn 100 năm nô dịch và thống trị của đế quốc đối với nhân dân Trung Hoa.

B. Báo hiệu sự kết thúc ách thống trị, nô dịch của chế độ phong kiến tư bản trên đất Trung Quốc.

C. Tăng cường lực lượng xã hội chủ nghĩa và tăng cường sức mạnh của phong trào giải phóng dân tộc.

D. Đất nước Trung Quốc bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do, tiến lên Chủ Nghĩa xã hội.

Câu 3: Nước cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949 đánh dấu Trung Quốc:

A. Hoàn thành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

B. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên TBCN

C. Chuẩn bị hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

D. Hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến lên xây dựng CNXH.

Câu 4: Sự ra đời của nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là kết quả trực tiếp của

A. Sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Nhật

B. Cuộc đấu tranh chống chế độ phong kiến

C. Cuộc đấu tranh chống Tưởng

D. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân phương Tây.

Câu 5: Tính chất của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ ở Trung Quốc (1946-1949) đưa đến sự thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung hoa là:

A. Cuộc cách mạng dân chủ tư sản kiểu mới

B. Một cuộc cách mạng vô sản

C. Một cuộc nội chiến

D. Một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

Câu 6: Ý nào dưới đây không phải ý nghia lịch sử của sự ra đời nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa.

A. Kết thúc ách nô dịch hơn 100 năm của đế quốc và hàng nghìn năm của chế độ phong kiến.

B. Đưa Trung Quốc bước vào kỉ nguyên độc lập, tự do

C. Hệ thống XHCN được nối liền từ châu Âu sang Châu á

D. Đưa Trung Quốc trở thành cường quốc kinh tế thế giới.

Câu 7: Ngày 1/10/1949 ở Trung quốc đã diễn ra sự kiện lịch sử gì quan trọng?

A. Nam Kinh được giải phóng

B. Quốc dân Đảng thất bại và rút khỏi Đài Loan

C. Nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được thành lập

D. Bắc Kinh được giải phóng

Câu 8: Cuộc nội chiến ở TRung Quốc (1946-1949) diễn ra giữa lựa lượng nào?

A. Phong kiến Mãn Thanh và Đảng Cộng Sản Trung Quốc

B. Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản Trung Quốc

C. Tập đoàn phong kiến quân phiệt ở phía Bắc và Đảng Cộng sản Trung Quốc

D. Tập đoàn phong kiến quân phiệt ở phía Bắc và Trung Hoa Dân Quốc.

Câu 9: Sau Chiến tranh thế giới thứ 2, tập đoàn Tưởng Giới Thạch âm mưu phát động cuộc nội chiến với Đảng Cộng Sản Trung Quốc nhằm mục đích gì?

A. Tiêu diệt Đảng Cộng Sản Trung Quốc

B. Tiêu diệt phong trào cách mạng Trung Quốc

C. Xoá bỏ ảnh hưởng của Liên Xô ở Trung Quốc

D. Cả A và B đều đúng

Câu 10: Nhân vật chủ mưu gậy nội chiến Trung Quốc từ 20/7/1946 là ai?

A. Mao Trạch Đông

B.Chu Đức

C. Tưởng Giới Thạch

D. Chu Ân Lai

Nội dung bài viết trên Luật Minh Khuê đã gửi tới quỹ bạn đọc một số thông tin liên quan tới cuộc nội chiến diễn ra tại Trung Quốc từ 1946 đến 1949. Hi vọng đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích giành cho các bạn.