1. Cơ sở dữ liệu đất đai là gì?
Theo quy định tại Khoản 23 của Điều 3 trong Luật Đất Đai năm 2013, Cơ sở dữ liệu đất đai là một tập hợp các thông tin liên quan đến đất đai, đã được tổ chức và sắp xếp để có thể truy cập, khai thác, quản lý, và cập nhật thông tin thông qua các phương tiện điện tử.
Cơ sở dữ liệu đất đai này bao gồm các dữ liệu có cấu trúc, như thông tin địa chính, dữ liệu về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thống kê đất đai, và kiểm kê đất đai. Tất cả những thông tin này đã được tổ chức và sắp xếp để đảm bảo việc truy cập, khai thác, quản lý, và cập nhật thường xuyên thông qua các phương tiện điện tử. Cơ sở dữ liệu địa chính đóng vai trò quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng và định vị không gian cho các thành phần cơ sở dữ liệu khác.
2. Cơ quan nào có trách nhiệm xây dựng Cơ sở dữ liệu đất đai về địa chính?
Dựa theo Điều 3 của Thông tư 05/2017/TT-BTNMT, có các quy định sau đây:
- Cơ sở dữ liệu đất đai do cơ quan Trung ương tổ chức xây dựng gồm:
+ Cơ sở dữ liệu thống kê và kiểm kê đất đai: Bao gồm dữ liệu báo cáo, biểu đồ, và bảng số liệu thống kê, kiểm kê về đất đai. Các thông tin này bao gồm bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp vùng và trên toàn quốc, cũng như dữ liệu về quản lý sử dụng đất theo từng chuyên đề.
+ Cơ sở dữ liệu quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: Bao gồm dữ liệu báo cáo thuyết minh tổng hợp, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất. Nó cũng bao gồm bản đồ điều chỉnh quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia và cấp vùng kinh tế - xã hội.
+ Cơ sở dữ liệu giá đất: Bao gồm dữ liệu về khung giá đất, giá đất tại các khu vực giáp ranh giữa các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương (gọi tắt là "khu vực giáp ranh").
- Cơ sở dữ liệu đất đai do tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức xây dựng gồm:
+ Cơ sở dữ liệu địa chính: Bao gồm dữ liệu về lập, chỉnh lý bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, và tài sản khác liên quan đến đất (gọi tắt là "Giấy chứng nhận"), cùng với hồ sơ địa chính.
+ Cơ sở dữ liệu thống kê và kiểm kê đất đai: Bao gồm dữ liệu báo cáo, biểu đồ, và bảng số liệu thống kê, kiểm kê về đất đai cấp xã, huyện, và tỉnh. Thông tin về quản lý sử dụng đất theo từng chuyên đề thực hiện dưới sự quyết định của cấp có thẩm quyền.
+ Cơ sở dữ liệu quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất: Bao gồm dữ liệu báo cáo thuyết minh tổng hợp, bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, cùng với bản đồ điều chỉnh quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của cấp tỉnh và cấp huyện.
+ Cơ sở dữ liệu giá đất: Bao gồm dữ liệu về bảng giá đất, bảng giá đất điều chỉnh và bổ sung, hệ số điều chỉnh giá đất, giá đất cụ thể, giá trúng đấu giá quyền sử dụng đất, cùng với thông tin về giá đất trong Phiếu thu thập thông tin về thửa đất.
Theo Khoản 2 của Điều 4 trong Thông tư 05/2017/TT-BTNMT, Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm quản lý cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia theo các quy định sau:
- Sở Tài nguyên và Môi trường phải xây dựng kế hoạch triển khai việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và sau đó trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để duyệt.
- Sở Tài nguyên và Môi trường cần tổ chức xây dựng, quản lý và cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai theo quy định tại Khoản 2 của Điều 3 trong Thông tư này.
- Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm kiểm tra việc thực hiện cập nhật cơ sở dữ liệu đất đai của Văn phòng đăng ký đất đai.
- Cuối mỗi năm, Sở Tài nguyên và Môi trường phải báo cáo tình hình xây dựng và vận hành cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh, sử dụng mẫu biểu được ghi chi tiết trong Phụ lục số 01 kèm theo Thông tư này, và gửi báo cáo này đến Tổng cục Quản lý đất đai trước ngày 15 tháng 01 hàng năm.
Do đó, Sở Tài nguyên và Môi trường chính là cơ quan có trách nhiệm chủ đạo trong việc xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu đất đai về địa chính.
3. Xây dựng cơ sở dữ liệu để quản lý đất đai hiệu quả
Trong thời gian gần đây, việc thực hiện chính sách và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia và triển khai Chính phủ điện tử đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng với các địa phương thúc đẩy mạnh mẽ trong việc xây dựng hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia.
Sự ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý nhà nước tổng quát và quản lý đất đai cụ thể đã trở thành một xu hướng tất yếu hiện nay để phục vụ việc xây dựng Chính phủ số, chính quyền số, nền kinh tế số và xã hội số. Do đó, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cũng như các giải pháp liên quan đến việc kết nối, chia sẻ và khai thác thông tin từ cơ sở dữ liệu đất đai với các hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu khác là một trong những nhiệm vụ quốc gia hàng đầu, đóng vai trò là nền tảng và công cụ quản trị quốc gia hiện đại. Điều này đã nhận được sự quan tâm và chỉ đạo liên tục từ Đảng, Chính phủ, và Thủ tướng Chính phủ, được thể hiện trong các tài liệu chỉ đạo điều hành.
Trong thời gian qua, với sự nỗ lực đồng lòng của các địa phương trên khắp cả nước và sự hướng dẫn từ Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng với các bộ, ngành liên quan, việc xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai đã được triển khai và đang tiến hành. Đồng thời, việc kết nối cơ sở dữ liệu đất đai với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các điều kiện cần thiết đã được triển khai để cung cấp dịch vụ công về đất đai qua Cổng dịch vụ công quốc gia.
Theo thông tin từ Cục Đăng ký và dữ liệu thông tin đất đai, cho đến thời điểm hiện tại, tại cấp Trung ương, đã hoàn thành việc xây dựng bốn thành phần cơ sở dữ liệu đất đai, gồm: Dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất cấp vùng và trên toàn quốc; dữ liệu về quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất Quốc gia; dữ liệu về khung giá đất; và dữ liệu về điều tra cơ bản về đất đai cấp vùng và trên toàn quốc.
Tại các địa phương, đã có 63 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương đã tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai, trong đó, 219/705 đơn vị hành chính cấp huyện đã hoàn thành việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính và 220/705 đơn vị hành chính cấp huyện đã hoàn thành cơ sở dữ liệu đất đai (bao gồm đầy đủ bốn thành phần cơ sở dữ liệu: Địa chính, thống kê kiểm kê đất đai, quy hoạch kế hoạch sử dụng đất và giá đất).
Nổi bật trong quá trình này, hơn 43 triệu thửa đất và hơn 22 triệu hồ sơ liên quan đến đất đai đã được chuẩn hóa và số hóa thông tin để xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và triển khai sử dụng.
Hiện tại, đã có 61 tỉnh thành phố kết nối với cổng dịch vụ công và tổ chức thanh toán trực tuyến. Điều này tạo cơ sở quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và công khai trong việc thanh toán từ phía người sử dụng đất.
Nhằm đảm bảo việc hoàn thành mục tiêu đến năm 2025, tức là việc xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai thống nhất, đồng bộ và kết nối liên thông, các bộ và ngành có liên quan sẽ phải đề xuất đến Chính phủ để được phê duyệt các đề án và nhiệm vụ nhằm thúc đẩy cải cách hành chính và chuyển đổi số trong lĩnh vực đất đai. Các nhiệm vụ này bao gồm việc tăng cường chuyển đổi số trong việc quản lý và sử dụng đất, xây dựng và hoàn thiện đúng tiến độ hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia. Đồng thời, cần bảo đảm quản lý, vận hành, kết nối và chia sẻ thông tin tập trung, thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đảm bảo mọi người dân đều có khả năng tiếp cận thông tin về quản lý, quy hoạch và sử dụng đất.
Đồng thời, cần thực hiện đăng ký bắt buộc liên quan đến quyền sử dụng đất và tất cả các biến động đất đai, áp dụng các chế tài cụ thể và đồng bộ để ngăn chặn các trường hợp giao dịch không được đăng ký tại cơ quan nhà nước.
Bài viết liên quan: Cấu trúc, xây dựng và khai thác cơ sở dữ liệu địa chính?
Mọi thắc mắc về mặt pháp lý vui lòng liên hệ với Luật Minh Khuê qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!