1. Tìm hiểu về tổ chức tài chính vi mô là gì?

Tổ chức tài chính vi mô được định nghĩa và quy định theo Khoản 1 và Khoản 5 Điều 4 của Luật Các tổ chức tín dụng 2010. Theo đó:

- Khoản 1 của Điều 4 xác định rằng tổ chức tín dụng là một doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Trong phạm vi này, tổ chức tín dụng bao gồm các loại hình như ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

- Khoản 5 của Điều 4 xác định tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Từ các quy định trên, ta có thể hiểu rằng tổ chức tài chính vi mô là một loại hình tổ chức tín dụng mà hoạt động của nó tuân thủ quy định của pháp luật hiện hành về ngân hàng. Tổ chức này được thành lập và hoạt động với mục tiêu đáp ứng các nhu cầu tài chính của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

- Vai trò chính của tổ chức tài chính vi mô là cung cấp các dịch vụ tài chính cần thiết cho nhóm khách hàng mục tiêu, bao gồm các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. Những khách hàng này thường không có khả năng tiếp cận hoặc không được các tổ chức tài chính truyền thống chấp nhận do các yếu tố như thu nhập thấp, tài sản không đáng kể hoặc thiếu tiếp cận với các dịch vụ tài chính.

- Tổ chức tài chính vi mô có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính đa dạng như cho vay, tiết kiệm, chuyển khoản tiền tệ, thanh toán, bảo hiểm và các hoạt động tài chính khác. Đồng thời, tổ chức này thường áp dụng các tiêu chí linh hoạt hơn trong việc đánh giá khách hàng và xác định rủi ro tài chính để tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm đối tượng mục tiêu.

- Mục tiêu của tổ chức tài chính vi mô không chỉ là tạo ra lợi nhuận, mà còn là thúc đẩy sự phát triển kinh tế và giảm bớt bất bình đẳng tài chính trong cộng đồng. Tổ chức này có thể đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp các giải pháp tài chính bền vững và thúc đẩy quyền tiếp cận tài chính công bằng cho nhóm khách hàng mục tiêu.

 

2. Cơ sở để tổ chức tài chính vi mô lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính năm?

Tổ chức tài chính vi mô, khi lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính hàng năm, dựa trên một số cơ sở quan trọng. Các cơ sở này được căn cứ vào các quy định được quy định tại Điều 79 của Thông tư 05/2019/TT-BTC. Phần lập và trình bày Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-TCVM) có nội dung và phương pháp cụ thể như sau: Cơ sở lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Việc lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ dựa trên các cơ sở sau đây:

- Bảng cáo tình hình tài chính: Báo cáo này cung cấp thông tin về tài sản, nguồn vốn và nguồn thu, cũng như tình hình tài chính tổng quát của tổ chức tài chính vi mô.

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Báo cáo này bao gồm thông tin về doanh thu, chi phí, lợi nhuận hoặc lỗ, cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô.

- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính: Đây là bản giải thích, diễn giải các thông tin quan trọng trong Báo cáo tài chính, bao gồm cả thông tin về lưu chuyển tiền tệ.

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ kỳ trước: Báo cáo này cung cấp thông tin về lưu chuyển tiền tệ trong kỳ trước đó, tạo điều kiện cho việc so sánh và phân tích các thông tin hiện tại.

- Các tài liệu kế toán khác: Bao gồm sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết các tài khoản như "Tiền mặt", "Tiền gửi tại Ngân hàng nhà nước", "Tiền gửi tại các Tổ chức tín dụng", sổ kế toán tổng hợp và sổ kế toán chi tiết của các tài khoản liên quan khác, bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ và các tài liệu kế toán chi tiết khác.

Với các cơ sở này, tổ chức tài chính vi mô có thể lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính hàng năm một cách đáng tin cậy và chính xác. Báo cáo này sẽ cung cấp thông tin quan trọng về lưu chuyển tiền tệ, giúp người đọc hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và hoạt động kinh doanh của tổ chức tài chính vi mô.

 

3. Quy định về phương pháp lập các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính năm?

Phương pháp lập các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính năm có căn cứ và tuân theo khoản 3 Điều 79 của Thông tư 05/2019/TT-BTC. Quy định này đã xác định cách thức lập và trình bày Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-TCVM) như sau: Nội dung và phương pháp lập và trình bày Báo cáo Lưu chuyển tiền tệ (Mẫu số B03-TCVM) được đề ra theo các chỉ tiêu sau đây: Nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ năm

Lưu chuyển tiền từ hoạt động kinh doanh

Trong phạm vi này, có các chỉ tiêu sau:

- Thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự nhận được (Mã số 01)

Chỉ tiêu này được lập dựa trên tổng số tiền thu về từ thu nhập lãi và các khoản thu nhập tương tự nhận được từ hoạt động tín dụng của TCVM trong kỳ báo cáo. Dữ liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ chỉ tiêu "Doanh thu từ hoạt động tín dụng" (Mã số 01) trên Báo cáo kết quả hoạt động. Trong trường hợp số liệu này là số âm (khi ghi nhận lỗ), thì được ghi trong ngoặc đơn (…).

- Chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự đã trả (Mã số 02)

Tổng hợp các luồng tiền trong kỳ

Trong phạm vi này, có các chỉ tiêu sau:

- Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ (Mã số 50)

Chỉ tiêu “Lưu chuyển tiền thuần trong kỳ” phản ánh chênh lệch giữa tổng số tiền thu vào và tổng số tiền chi ra từ ba loại hoạt động: hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính của TCVM trong kỳ báo cáo. Nếu số liệu chỉ tiêu này là số âm, thì được ghi trong ngoặc đơn (...). Mã số 50 được tính bằng tổng của Mã số 30, Mã số 35 và Mã số 40.

- Tiền và tương đương tiền đầu kỳ (Mã số 60)

Chỉ tiêu này được lập dựa trên số liệu chỉ tiêu “Tiền” đầu kỳ báo cáo (Mã số 110, cột “Số đầu năm” trên Báo cáo tình hình tài chính).

- Ảnh hưởng của thay đổi tỷ giá hối đoái quy đổi ngoại tệ (Mã số 61)

Chỉ tiêu này được lập dựa trên tổng số chênh lệch tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư cuối kỳ của tiền và các khoản tương đương tiền bằng ngoại tệ (Mã số 110 của Báo cáo tình hình tài chính) tại thời điểm cuối kỳ báo cáo. Số liệu để ghi vào chỉ tiêu này được lấy từ sổ kế toán các tài khoản tiền và các tài khoản liên quan (bao gồm cả các khoản tương đương tiền), sau khi kiểm tra so sánh với sổ kế toán chi tiết TK 641 trong kỳ báo cáo. Chỉ tiêu này được ghi bằng số dương nếu có lãi tỷ giá và được ghi bằng số âm trong ngoặc đơn (…) nếu có lỗ tỷ giá.

- Tiền và tương đương tiền cuối kỳ (Mã số 70)

Chỉ tiêu này được lập dựa trên số liệu chỉ tiêu “Tiền” cuối kỳ báo cáo (Mã số 110, cột “Số cuối năm” trên Báo cáo tình hình tài chính). Mã số 70 được tính bằng tổng của Mã số 50, Mã số 60 và Mã số 61. Như vậy, chi tiết về nội dung và phương pháp lập các chỉ tiêu trên Báo cáo lưu chuyển tiền tệ trong báo cáo tài chính năm được thực hiện theo quy định trên. Việc tuân thủ quy định này giúp đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc báo cáo về lưu chuyển tiền tệ của tổ chức tài chính.

Xem thêm >>> Tổ chức tài chính vi mô là gì? Hoạt động, vai trò của tổ chức tài chính vi mô

Để giúp quý khách giải đáp mọi thắc mắc, chúng tôi đã thiết lập một hotline đặc biệt với số điện thoại 1900.6162. Quý khách có thể gọi đến hotline này để được tư vấn và hỗ trợ trực tiếp từ đội ngũ chuyên gia của chúng tôi. Ngoài ra, quý khách cũng có thể sử dụng địa chỉ email lienhe@luatminhkhue.vn để gửi thông tin hoặc câu hỏi của mình. Chúng tôi cam kết sẽ phản hồi và giải quyết thắc mắc của quý khách một cách nhanh chóng và chính xác.