Mục lục bài viết
1. Tìm hiểu quy định về cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng
Theo quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, cơ sở tín ngưỡng và cơ sở tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện các hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng của cộng đồng. Theo Điều 2, Khoản 4, cơ sở tín ngưỡng được định nghĩa là những địa điểm mà cộng đồng thực hiện các hoạt động tín ngưỡng, như đình, đền, miếu, nhà thờ dòng họ và các cơ sở tương tự. Trong khi đó, theo Khoản 14, cơ sở tôn giáo bao gồm các địa điểm như chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, trụ sở của tổ chức tôn giáo và các cơ sở hợp pháp khác của tổ chức tôn giáo.
Tiếp theo, theo quy định tại Điều 2, Khoản 1, tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người thể hiện qua các lễ nghi kèm theo phong tục, tập quán truyền thống nhằm mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Điều này phản ánh sự kết hợp giữa tín ngưỡng và văn hóa truyền thống, là nền tảng cho việc thực hiện các hoạt động tôn giáo trong cộng đồng.
Ngoài ra, theo quy định tại Khoản 5 của Điều 2, tôn giáo được định nghĩa là niềm tin của con người tồn tại cùng với hệ thống quan niệm và các hoạt động liên quan như đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức. Điều này cho thấy tôn giáo không chỉ là một niềm tin mà còn là một hệ thống văn hóa, triết lý và các hoạt động cụ thể đi kèm.
Tóm lại, cơ sở tín ngưỡng và cơ sở tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển các hoạt động tôn giáo và tín ngưỡng trong xã hội. Chúng là không gian văn hóa và tâm linh của cộng đồng, nơi mà người dân có thể thể hiện và tìm kiếm sự kết nối với niềm tin và truyền thống của mình.
2. Cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng có thuộc đối tượng kiểm tra tiền công đức toàn quốc không ?
Nhằm thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tại Công văn 6898/VPCP-KTTH năm 2023, Bộ Tài chính đã phát hành Công văn 11752/BTC-HCSN năm 2023 với mục đích hướng dẫn việc kiểm tra tiền công đức. Công văn này đề cập đến việc kiểm tra tổng thể việc quản lý tiền công đức, tài trợ tại các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn cấp tỉnh.
Đối với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trừ tỉnh Quảng Ninh), hướng dẫn cụ thể đã được đề ra. UBND cấp tỉnh được yêu cầu ban hành quyết định kiểm tra tổng thể việc quản lý tiền công đức, tài trợ tại các di tích lịch sử-văn hóa trên địa bàn cấp tỉnh. Trong quyết định này, UBND cần nêu rõ các nội dung liên quan, bao gồm đối tượng kiểm tra và phân công trách nhiệm.
Đối với đối tượng kiểm tra, chỉ dẫn rõ ràng đã được đưa ra. Đó là các di tích lịch sử - văn hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bằng xếp hạng di tích hoặc đã được đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc bảo tồn và quản lý các di tích văn hóa lịch sử, đồng thời tạo điều kiện cho việc kiểm tra được thực hiện một cách chính xác và có hiệu quả.
Trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị cũng được phân công một cách cụ thể. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được yêu cầu cung cấp văn bản kèm theo danh mục di tích đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bằng xếp hạng di tích hoặc đã được đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Đồng thời, họ cần gửi thông tin này đến Sở Tài chính và các UBND cấp huyện để làm căn cứ cho việc kiểm tra. Điều này nhấn mạnh vai trò của sự hợp tác giữa các cơ quan, đơn vị để đảm bảo công tác kiểm tra được thực hiện một cách toàn diện và chính xác.
Tổng cộng, việc ban hành Công văn 11752/BTC-HCSN năm 2023 là một bước quan trọng trong việc tăng cường quản lý và bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.
Ngoài ra, trong Điều 2 của Mục III Thông tư 01/1999/TT-TGCP, được ban hành với mục đích quản lý và bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, có quy định về cơ sở thờ tự là di tích đã được xếp hạng. Theo quy định này, việc sửa chữa, xây dựng tại cơ sở thờ tự được Nhà nước xếp hạng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh thực hiện theo Điều 11, Nghị định 288/HĐBT ngày 31/12/1992 của Hội đồng Bộ trưởng, quy định về việc thi hành "Pháp lệnh bảo vệ, sử dụng di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh".
Trong tinh thần này, tại Công văn 11752/BTC-HCSN năm 2023, Bộ Tài chính đã hướng dẫn đối tượng kiểm tra tiền công đức toàn quốc là những di tích lịch sử - văn hóa đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp bằng xếp hạng di tích hoặc đưa vào danh mục kiểm kê di tích của địa phương theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Điều này nhấn mạnh sự quan trọng của việc bảo tồn và quản lý di tích lịch sử-văn hóa, cũng như nâng cao ý thức và trách nhiệm của cộng đồng trong việc duy trì và phát triển di sản văn hóa của đất nước.
Cụ thể, những di tích lịch sử - văn hóa này sẽ được quy định và liệt kê tại danh mục do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành. Điều này đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong việc xác định đối tượng kiểm tra tiền công đức toàn quốc, từ đó giúp cải thiện chất lượng quản lý và bảo tồn di sản văn hóa của đất nước.
Ngoài ra, không chỉ những di tích lịch sử - văn hóa được quy định tại công văn này, mà còn cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng cũng có thể được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng là di tích lịch sử-văn hóa theo quy định của Luật Di sản văn hóa. Điều này mở ra một phạm vi rộng lớn hơn trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa của dân tộc, không chỉ giới hạn ở các di tích lịch sử, văn hoá truyền thống mà còn bao gồm cả các cơ sở tôn giáo và tín ngưỡng, phản ánh sự đa dạng và phong phú của văn hóa Việt Nam.
3. Quy định quản lý, sử dụng tiền công đức, tài trợ cho di tích đồng thời là cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng hiện nay ra sao ?
Căn cứ vào quy định tại Điều 10 và 11 của Thông tư 04/2023/TT-BTC, tiền công đức và tài trợ cho di tích đồng thời là cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng hiện nay được quản lý và sử dụng theo những nguyên tắc và quy định cụ thể sau đây:
Đối với cơ sở tôn giáo, người đại diện của cơ sở này tự quyết định và chịu trách nhiệm về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền công đức và tài trợ. Điều này đồng nghĩa với việc họ phải đảm bảo rằng số tiền này được sử dụng một cách hiệu quả và phù hợp với mục đích bảo vệ, phát huy giá trị của di tích cũng như việc tổ chức các hoạt động lễ hội. Ngoài ra, họ cũng phải đảm bảo rằng mọi hoạt động này tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các quy định về di sản văn hóa và các pháp luật khác có liên quan.
Trường hợp cơ sở tôn giáo nằm trong phạm vi địa bàn của di tích và được giao cho đơn vị sự nghiệp công lập quản lý, sử dụng, thì quy định sẽ thực hiện theo những hướng dẫn cụ thể được quy định tại khoản 4 của Điều 13 trong Thông tư 04/2023/TT-BTC. Điều này nhấn mạnh việc phối hợp và hợp tác giữa các đơn vị, tổ chức trong việc quản lý và sử dụng tiền công đức, tài trợ cho di tích và các hoạt động liên quan.
Đối với cơ sở tín ngưỡng, cũng tương tự, người đại diện của cơ sở này cũng tự quyết định và chịu trách nhiệm về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng tiền công đức và tài trợ. Họ cũng phải đảm bảo rằng các khoản tiền này được sử dụng một cách hợp lý, nhằm bảo vệ và phát huy giá trị của di tích cũng như tổ chức các hoạt động lễ hội liên quan. Đồng thời, họ cũng phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, di sản văn hóa và các quy định pháp luật khác có liên quan, như đã nêu trong Thông tư 04/2023/TT-BTC.
Tóm lại, việc quản lý và sử dụng tiền công đức và tài trợ cho di tích đồng thời là cơ sở tôn giáo, cơ sở tín ngưỡng là một phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển di sản văn hóa của đất nước. Việc áp dụng các quy định cụ thể như đã quy định trong Thông tư 04/2023/TT-BTC giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong việc sử dụng nguồn lực này, góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của di sản văn hóa Việt Nam.
Xem thêm bài viết: Di tích lịch sử thuộc đối tượng kiểm tra tiền công đức toàn quốc?
Khi quý khách hàng có thắc mắc về quy định pháp luật, hãy liên hệ ngay đến hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn