1.Cơ sở xác định quy chế pháp lý đặc biệt của quốc gia trong tư pháp quốc tế
Nhiều trưòng hợp quốc gia tham gia vào quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài. Khi tham gia vào các mốì quan hệ xã hội đó, quốc gia được hưỏng quy chế pháp lý đặc biệt - không những không ngang hàng với các cá nhân và pháp nhân mà còn được hưởng quyện miễn trừ tư pháp tuyệt đối.
Từ xa xưa, các nhà lý luận pháp lý đã thừa nhận một cách rộng rãi luận điểm có tffth nguyên tắc “kẻ ngang quyền này không có quyền lực gì đối với kẻ ngáng quyền kia” (Par in parem non habet imperium)
Theo nguyên tắc này, Nhà nước này hoặc bất kỳ cơ quan nào của Nhà nước này không có quyền xét xử Nhà nước khác hoặc đại diện của Nhà nước khác. Ngay trong thực tiễn cuộc sống của các tầng lốp dân cư cũng như trong quan hệ giữa các cơ quan nhà nưốc và công chức nhà nưốc ở mỗi quốc gia, về mặt lý luận cũng như thực tế, cùng cấp và ngang quyền thì không bao giờ có quyền lực gì đốỉ với nhau, chỉ có cấp trên mới có quyền lực đốỉ với cấp dưới.
Trong quan hệ quốc tế không có quốc gia nào đứng trên hay là cấp trên của quốc gia khác. Mọi quốc gia dù lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, dù theo bất kỳ hệ thông kinh tế - xã hội nào đều là những thực thể độc lập, có chủ quyền và phải bình đẳng với nhau. Bỏ qua nguyên tắc này, cho phép toà án của nưốc mình xét xử Nhà nưốc khác hoặc xét xử những ngưòi đại diện cho Nhà nưốc khác mà Nhà nưồc đó không đồng ý sẽ dẫn đến tình trạng chà đạp chủ quyền quốc gia, xoá bỏ sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, xúc phạm đến danh dự và phẩm giá của quốc gia khác và đương nhiên cản trỏ quá trình phát triển bình thường của các mối quan hệ chính trị, kinh tế, thương mại, khoa học - kỹ thuật và văn hoá giữa các quốc gia, và của cả các mốỉ quan hệ dân sự theọ nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài.
2.Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của quốc gia
Quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đôì của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được ghi nhận rải rác trong nhiều điều ước quốc tế, điển hình nhất là Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao. Theo Điều 31 của Công ước này, những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao theo quy định của Công 'ước thì được hưỏng quyền miễn trừ xét xử hình sự, miễn trừ xử phạt hành chính. Họ cũng được hưởng quyền miễn trừ xét xử dân sự, trừ 3 trường hợp sau đây:
- Tham gia các vụ kiện liên quan đến bất động sản tư nhân trên' lãnh thổ nưởc sở tại, nếu viên chức ngoại giao thủ đắc bất động sản đó nhân danh cá nhân mình;
- Tham gia các vụ kiện về thừa kế không nhân danh quốc gia cử đại diện;
- Tham gia các vụ kiện liên quan tới các hoạt động nghề nghiệp hoặc thương mại mà viên chức ngoại giao đố thực hiện ỏ nước sỏ tại ngoài phạm vi chức năng chính thức của mình.
Ngoài ba trường hợp nêu trên, các tranh chấp dân sự liên quan đến những người được hưỏng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp quốc gia cử viên chức đó hoặc bản thân viên chức đó đồng ý tham gia tố tụng tại Toà án, tức là đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện viên chức ngoại giao của mình tại Toà án và cũng có nghĩa là đồng ý cho Toà án thụ lý và giải quyết đơn ’kiện chống lại viên chức ngoại giao của mình.
Ở Việt Nam, Điều 84 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dần sự năm 1989 cũng khẳng định rõ: không chỉ các vụ án dân sự có liên quan đến người được hưởng quy chế ngoại giao mà cả các vụ án dân sự liên quan đến Nhà nước nước ngoài đều được giải quyết bằng con đường ngoại giao, trừ trường hợp Nhà nước nước ngoài hoặc người được hưỗng quy chế ngoại giao đồng ý tham gia tố tụng tại Toà án Việt Nam.
Điều 12 Pháp lệnh về quyền ưu đãi, miễn trừ dành cho cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự và cơ quan đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam năm 1993
cũng khẳng định những nội dung quy định tại Điều 31 của Công ưốc Viên năm 1961 vê' quan hệ ngoại giao, đồng thời quy định cụ thể thêm rằng: viên chức ngoại giao không có nghĩa vụ phải cung cấp chứng cứ; nếu họ tự nguyện cung cấp chứng cứ thì việc cung cấp chứng cứ được thực hiện với hình thức họ tự chọn; viên chức ngoại giao được hưởng quyền miễn trừ đối vối các biện pháp thi hành án, trừ trường hợp vụ tranh chấp liên quan đến bất động sản tư nhân có trên lãnh thổ Việt Nam; việc thừa kế; hoạt động thương mại hoặc nghề nghiệp mà viên chức ngoại giao tiến hành tại Việt Nam ngoài phạm vi chức năng chính của họ; trong trường hợp phải áp dụng biện pháp thi hành án thì việc đó phải được tiến hành trên cơ sở tôn trọng quyền bất khả xâm phạm về thân thể và nơi ỗ của viên chức ngoại giao.
3. Thực tiễn quan hệ quốc tế về quyền miễn trừ tư pháp quốc gia
Thực tiễn quan hệ quốc tế cho thấy rằng, nhìn chung các quy định của Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao đều được các quốc gia chấp hành nghiêm chỉnh và do đó quỳền miễn trừ tư pháp của các viên chức ngoại giao được tôn trọng. Những trường hợp ví phạm quyền miễn trừ tư pháp của nhà nước nước ngoài hoặc của các viên chức ngoại giao nước ngoài ở các toà án của các nước phương Tây đôi khi cũng.xảy ra, nhưng chủ yếu với mục đích chính trị hay vì động cơ phân biệt đốì xử trong quan hệ đốì với những nước có chế độ chính trị - xằ hội đối lập hoặc có đường lối chính sách độc lập mà các nước phương Tây không mong muốh. Mỗi khi các vi phạm đó xảy ra đều bị nhiều nước và dư luận tiến bộ trên thế giới lên án mạnh mẽ.
Theo logic của vấn đề, những người đại diện của quốc gia được hưởng quyển miễn trừ tư pháp thì đương nhiên bản thân quốc gia cũng là đôì tượng được hưởng quyền miễn trừ tư pháp. Tuy nhiên về mặt lý luận cũng như trên thực tế, trước hết phải khẳng định rằng, quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đôì cho nên những người được quốc gia chỉ định làm đại diện cho quốc gia trong quan hệ quốc tế được hưởng quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối khi thi hành công vụ.
Cũng như Việt Nam, nhiều quốc gia không chỉ tham gia Công ước Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao mà còn ban hành các văn bản pháp luật quốc gia để cụ thể hoá các quy định của Công ưởc Viên năm 1961 về quan hệ ngoại giao vào điều kiện cụ thể của quốc gia, bảo đảm cho các cam kết quốc tế của quốc gia được thi hành. Thực tiễn quan hệ ngoại giao trên thế giới cho thấy nhìn chung các quốc gia' đều có các biện pháp bảo đảm thi hành các quy định của Điều 31 của Công ưốc này.
Như vậy, quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong các mối quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài được thừa nhận rộng rãi, có cơ sỗ vững chắc về lý luận và về thực tiễn pháp lý, về pháp lý quốc tế lẫn pháp lý quốc gia.
Việc thừa nhận nguyên tắc .tôn trọng chủ quyền quốc gia, nguyên tắc tôn trọng sự bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia và các nguyên tắc cơ bản khác của pháp luật quốc tế hiện đại, đựơng nhiên dẫn đến chỗ thừa nhận quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia và của những người đại diện của quốc gia trong'quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài.
Trong sách báo về tư pháp quốc tế ỏ Việt Nam và ở các nước, vấn đề quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thông thường được đề cập và ủng hộ. Song sự khác nhau là ỏ chỗ có quan điểm khẳng định rõ đây là quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối1, và cũng có quan điểm không khẳng định rõ đây có là quyền tuyệt đối hay là không. Cần phải khẳng định rằng quyền miễn trừ tư pháp của quốc gia trong lĩnh vực quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nửớc ngoài là quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối. Tính tuyệt đối của quyền này thể hiện ở nội dung của nó và không có ngoại lệ. Quốc gia hưởng quyền này ở mọi nơi, mọi lúc. Việc quốc gia tuyên bô' từ bỏ một nội dung hay toàn bộ nội dung của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối của mình trong những trường hợp cụ thể nào đó là quyền của bản thân quốc gia và không có nghĩa là ngoại lệ của quyền miễn trừ tư pháp tuyệt đối.
4. Quy chế phải đảm bảo những yếu tố nào ?
– Mang tính hợp pháp, quy chế ban hành phải phù hợp với các quy định của pháp luật, không trái với những quy định mà pháp luật nghiêm cấm.
– Mang tính thực tiến, quy chế ban hành phù hợp với yêu cầu quản lý điều hành, hoạt động tổ chức trong cơ quan, đơn vị.
– Mang tính hiệu quả, góp phần tích cực cho công tác quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động của tổ chức, tạo ra hành lang pháp lý cho tổ chức, khi quy chế được áp dụng thì mọi người phải tôn trọng và thực thi.
5.Quyền miễn trừ tư pháp
Miễn trừ xét xử tại bất cứ Tòa án nào. Nội dung quyền này thể hiện nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không có một tòa án nước ngoài nào có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ kiện mà quốc gia là bị đơn (trong lĩnh vực dân sự). Các tranh chấp liên quan đến quốc gia phải được giải quyết bằng con đường thương lượng trực tiếp hoặc con đường ngoại giao, trừ khi quốc gia từ bỏ quyền này. Điều 5 và Điều 6 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: Quốc gia được hưởng quyền miễn trừ tài phán trước một tòa án nước ngoài theo những quy định của Công ước. Các quốc gia có nghĩa vụ đảm bảo quyền miễn trừ tài phán và quyền miễn trừ tài sản của quốc gia khác, cụ thể là không thực thi quyền tài phán chống lại quốc gia khác trong một vụ kiện tại tòa án nước mình.
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo đơn kiện, nếu quốc gia đồng ý cho tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện mình, tức là đồng ý cho Tòa án nước ngoài xét xử vụ kiện mà quốc gia là bị đơn. Nội dung của quyền này thể hiện trong trường hợp nếu một quốc gia đồng ý để tòa án nước ngoài thụ lý, giải quyết một vụ tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia thì tòa án nước ngoài đó được quyền xét xử nhưng tòa án không được áp dụng bất cứ một biện pháp cưỡng chế nào như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia để phục vụ cho việc xét xử. Tòa án chỉ được áp dụng các biện pháp này nếu được quốc gia cho phép. Điều 18 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế tiền tố tụng nào như tịch thu, chiếm giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”.
Miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế nhằm đảm bảo thi hành quyết định của Tòa án trong trường hợp quốc gia không đồng ý cho các tổ chức, cá nhân nước ngoài kiện, đồng ý cho Tòa án xét xử. Trong trường hợp quốc gia đồng ý cho một tòa án nước ngoài giải quyết một tranh chấp mà quốc gia là một bên tham gia và nếu quốc gia là bên thua kiện thì bản án của tòa án nước ngoài đó cũng phải được quốc gia tự nguyện thi hành. Nếu không có sự đồng ý của quốc gia thì không thể áp dụng các biện pháp cưỡng chế như bắt giữ, tịch thu tài sản của quốc gia nhằm cưỡng chế thi hành bản án đó. Ngay cả khi quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ xét xử thì quyền miễn trừ đối với các biện pháp cưỡng chế bảo đảm thi hành phán quyết của tòa án vẫn phải được tôn trọng. Điều 19 Công ước của LHQ về quyền miễn trừ tài phán và miễn trừ tài sản của quốc gia quy định: “Không có biện pháp cưỡng chế nào sau khi có phán quyết của tòa án như tịch thu, bắt giữ tài sản trái pháp luật của quốc gia được áp dụng trong một vụ kiện trước một tòa án nước ngoài…”
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)