1. Quy định về quyền nhân thân trong bộ luật dân sự 

Mối xác định quan hệ giữa cha mẹ và con cái được xem là quyền nhân thân quy định tại Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

- Cá nhân có quyền kết hôn, ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân, quan hệ cha mẹ và con và quan hệ giữa các thành viên gia đình.

- Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha, mẹ của mình.

Theo đó, cha mẹ và con cái có quyền xác định mối quan hệ huyết thống của mình, quyền nhận con nuôi, quyền nuôi con nuôi của cha mẹ. Đồng thời, mối quan hệ của cha, mẹ, con không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của vợ, chồng. Hay nói cách khác dù cha mẹ chưa đăng ký kết hôn, hay đã ly hôn theo quyết định của Toà án thì con cái vẫn có quyền và nghĩa vụ đối với cha mẹ và ngược lại.

2.Có được chấm dứt quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con cái không?

Pháp luật Việt Nam không có quy định về việc xóa quan hệ huyết thống hay chấm dứt quan hệ huyết thống giữa con cái với cha mẹ. Quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ hình thành một cách tự nhiên bằng con đường huyết thống. Vì vậy, quan hệ huyết thống không thể chấm dứt theo ý chí chủ quan của con người. Pháp luật cũng không thể định đoạt việc chấm dứt quan hệ huyết thống vì điều đó đi ngược với lẽ tự nhiên.

Điều 69, 70 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ và con cái đối với nhau như sau:

- Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ:

+ Thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh;

+ Trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

+ Giám hộ hoặc đại diện theo quy định của Bộ luật dân sự cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự.

+ Không được phân biệt đối xử với con; không được lạm dụng sức lao động của con; không được xúi giục, ép buộc con làm việc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

- Con cái có quyền và nghĩa vụ:

+ Được cha mẹ thương yêu, tôn trọng, thực hiện các quyền, lợi ích hợp pháp về nhân thân và tài sản theo quy định của pháp luật; được học tập và giáo dục; được phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức.

+ Có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn, hiếu thảo, phụng dưỡng cha mẹ, giữ gìn danh dự, truyền thống tốt đẹp của gia đình.

+ Con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình thì có quyền sống chung với cha mẹ, được cha mẹ trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc.

Con chưa thành niên tham gia công việc gia đình phù hợp với lứa tuổi và không trái với quy định của pháp luật về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em.

+ Con đã thành niên có quyền tự do lựa chọn nghề nghiệp, nơi cư trú, học tập, nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ; tham gia hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội theo nguyện vọng và khả năng của mình. 

Khi sống cùng với cha mẹ, con có nghĩa vụ tham gia công việc gia đình; đóng góp thu nhập cho gia đình phù hợp với khả năng của mình.

+ Được hưởng quyền về tài sản tương xứng với công sức đóng góp vào tài sản của gia đình.

Khác với tính chất và cơ sở hình thành quan hệ nuôi con nuôi, quan hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ và con đẻ hình thành một cách tự nhiên bằng con đường huyết thống. Do đó, sự gắn bó tình cảm và mối liên hệ giữa cha đẻ, mẹ đẻ với con đẻ là quy luật tự nhiên, có tính bền vững bất biến bởi nguồn gốc huyết thống, vì vậy, quan hệ huyết thống tự nhiên không thể chấm dứt theo ý chí chủ quan của con người. Pháp luật cũng không thể định đoạt việc chấm dứt quan hệ huyết thống vì điều đó trái với lẽ tự nhiên. Vì vậy rất khó trong việc chấm dứt mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ với con đẻ.

3. Quyền và nghĩa vụ giữa các thành viên trong gia đình

Quyền, nghĩa vụ của ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu, sống mẫu mực và nêu gương tốt cho con cháu; trường hợp cháu chưa thành niên, cháu đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình mà không có người nuôi dưỡng theo quy định tại Điều 105 của Luật này thì ông bà nội, ông bà ngoại có nghĩa vụ nuôi dưỡng cháu.

Để cụ thể hóa mối quan hệ ruột thịt của gia đình trong phạm vi trách nhiệm của người là ông bà nội, ông bà ngoại, điều luật quy định: Ông bà nội, ông bà ngoại có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo dục cháu. Trong phạm vi gia đình thì ông bà là thành viên lớn nhất, có vị trí quan trọng cao nhất về thứ bậc trong gia đình. Vì vậy, ông bà có trách nhiệm bao quát với tất cả các cháu, đặc biệt là đối với các cháu còn nhỏ - nhiệm này chỉ mang tính hỗ trợ nếu cha mẹ cháu còn sống.

Ông bà có trách nhiệm sống mẫu mực, nêu gương tốt cho con cháu. Để góp phần xây dựng gia đình hòa thuận, bền vững thì ông bà phải có trách nhiệm nêu gương xem là điều kiện tiên quyết trong xây dựng gia đình văn hóa.

- Quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em

Theo Điều 105 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền, nghĩa vụ của anh, chị, em trong gia đình là:

Anh, chị, em có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp không còn cha mẹ hoặc cha mẹ không có điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con.

Trong gia đình, anh, chị, em có mối quan hệ khá gần gũi bởi mối quan hệ cùng huyết thống và độ tuổi thường chênh lệch không nhiều, nên tâm lý cân bằng và ít khoảng cách, ít bị tác động bởi lễ giáo hơn

Quy định này nhằm xác định, nghĩa vụ của ông bà trong trường hợp cháu rơi vào hoàn cảnh không còn điều kiện để sinh sống, nhưng với điều kiện là khi ông bà có khả năng nuôi dưỡng cháu (như có tài sản, có sức khỏe). Đây thực chất là ghi nhận trách nhiệm đã có trên thực tế trong quan hệ gia đình truyền thống, nhằm tạo cơ sở pháp lý để giải quyết khi có phát sinh trên thực tế việc xác định trách Viện nhiệm của thành viên gia đình.

-Quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột

Theo Điều 106 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, quyền, nghĩa vụ của cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột trong gia đình là:

Cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột có quyền, nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau; có quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau trong trường hợp người cần được nuôi dưỡng không còn cha, mẹ, con và những người được quy định tại Điều 104 và Điều 105 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 hoặc còn nhưng những người này không có điều kiện để thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng.

4. Việc từ mặt con có ảnh hưởng đến việc hưởng di sản thừa kế của bố mẹ không

Con cái bị cha mẹ từ mặt không được pháp luật công nhận. Vì vậy, quyền được hưởng di sản thừa kế không phụ thuộc việc cha mẹ từ mặt con cái mà phụ thuộc vào di chúc của cha mẹ. Nếu không có di chúc hoặc rơi vào các trường hợp thừa kế theo pháp luật; người con sẽ được hưởng di sản cha mẹ để lại theo hàng thừa kế thứ nhất.

Tuy nhiên, trường hợp cha mẹ có để lại di chúc và di chúc hợp pháp; thì việc phân chia tài sản thừa kế sẽ theo di chúc, tuân theo ý chí của người để lại di chúc .Theo quy định tại Điều 651 Bộ Luật Dân sự 2015:

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Do đó, việc “từ mặt” con không làm ảnh hưởng đến quyền hưởng di sản thừa kế của người con đã bị bố mẹ mình từ mặt. Nếu không có di chúc, hoặc di chúc không hợp pháp, lúc này di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật. Người con sẽ được quyền hưởng di sản thừa kế theo hàng thừa kế thứ nhất.

Tuy nhiên, trường hợp cha mẹ có để lại di chúc và di chúc hợp pháp thì việc phân chia tài sản thừa kế sẽ theo di chúc, tuân theo ý chí của người để lại di chúc theo quy định tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015

Người lập di chúc có quyền sau đây:

1. Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế.

2. Phân định phần di sản cho từng người thừa kế.

3. Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng.

4. Giao nghĩa vụ cho người thừa kế.

5. Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản

Theo đó, cha mẹ có quyền truất quyền hưởng di sản thừa kế của con, tuân theo ý chí của người để lại di sản thừa kế người con sẽ không còn quyền hưởng di sản thừa kế.

Tuy nhiên, cần lưu ý những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

- Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

- Con thành niên mà không có khả năng lao động.

Trừ trường hợp,

- Người đó từ chối nhận di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

Như vậy, việc “từ mặt” con chưa được pháp luật công nhận, do đó khi muốn đứa con không được quyền hưởng di sản thừa kế của mình thì cha, mẹ nên lập di chúc phân chia di sản. Trường hợp cha mẹ không lập di chúc hoặc di chúc được lập không hợp pháp thì người con bị "từ mặt" vẫn có quyền hưởng di sản thừa kế theo pháp luật.