1. Lập di chúc để lại di sản thừa kế cho người nước ngoài có được không?
Tại Điều 626 của Bộ luật Dân sự năm 2015, có quy định về quyền của người lập di chúc như sau:
- Chỉ định người thừa kế và có thể loại bỏ quyền thừa kế của họ: Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế theo ý muốn của mình và có thể loại bỏ quyền thừa kế của bất kỳ ai mà họ muốn.
- Phân phối tài sản cho từng người thừa kế theo ý muốn của mình: Người lập di chúc có thể quyết định cách phân phối tài sản của mình giữa các người thừa kế theo ý muốn của mình, có thể là theo tỷ lệ cố định, theo giá trị tài sản cụ thể, hoặc theo các phương pháp khác.
- Dành một phần của di sản để tặng, thờ cúng hoặc cho các mục đích từ thiện: Người lập di chúc có thể quyết định dành một phần của di sản để tặng cho người thừa kế, thờ cúng, hoặc để các mục đích từ thiện mà họ quan tâm.
- Giao phó nhiệm vụ cụ thể cho người thừa kế: Người lập di chúc có thể giao phó các nhiệm vụ cụ thể cho người thừa kế, chẳng hạn như việc quản lý một doanh nghiệp, chăm sóc người thừa kế không thể tự chăm sóc mình, hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến di sản.
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, và người phân phối di sản: Người lập di chúc có quyền chỉ định người giữ di chúc để thực hiện ý muốn của mình sau khi họ mất, người quản lý di sản để quản lý và điều chỉnh tài sản, và người phân phối di sản để phân phối tài sản cho người thừa kế theo di chúc.
Theo đó, việc lập di chúc và quyết định ai được nhận di sản là quyền của người sở hữu tài sản. Bộ luật Dân sự 2015 cũng không cấm công dân Việt Nam lập di chúc để chỉ định người nước ngoài được thừa kế tài sản của mình. Do đó, có thể lập di chúc để người nước ngoài được hưởng tài sản của mình. Tuy nhiên, người được chỉ định là người thừa kế không được nằm trong những trường hợp mà pháp luật cấm người đó thừa kế, theo quy định tại khoản 1 của Điều 621. Trừ trường hợp người để lại di sản đã biết về hành vi của những người đó và vẫn chọn cho họ được hưởng di sản theo di chúc.
Tuy nhiên, để di chúc được coi là hợp pháp, phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể như sau:
- Người lập di chúc phải tỉnh táo, sáng suốt khi viết di chúc và không bị lừa dối, đe dọa hoặc ép buộc. Nội dung của di chúc không được vi phạm các quy định pháp luật, không xâm phạm đạo đức xã hội và hình thức của di chúc cũng phải tuân theo quy định của pháp luật.
- Nếu người lập di chúc từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, di chúc phải được lập bằng văn bản và được cha mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Điều này là cần thiết để đảm bảo tính hợp lệ và hiệu lực của di chúc, vì người dưới 18 tuổi thường không có khả năng pháp lý đầy đủ để tự lập di chúc một cách độc lập.
- Nếu người lập di chúc bị hạn chế về thể chất hoặc không biết chữ, di chúc phải được ghi bằng văn bản, có sự chứng nhận hoặc chứng thực của nhân chứng. Điều này đảm bảo rằng nội dung của di chúc được ghi chính xác và có tính hợp lệ, và người lập di chúc không bị lợi dụng hoặc làm sai lệch nội dung di chúc do khả năng hạn chế của họ.
- Di chúc bằng văn bản không được chứng thực chỉ được xem là hợp pháp nếu đáp ứng đủ điều kiện được quy định tại khoản 1 của Điều này. Di chúc miệng được coi là hợp pháp khi người di chúc thể hiện ý chí cuối cùng trước mặt ít nhất hai nhân chứng và sau đó nhân chứng ghi chép lại và ký tên hoặc điểm chỉ.
- Trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, di chúc phải được chứng thực bởi công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền. Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và hiệu lực của di chúc, cũng như ngăn chặn sự tranh cãi hoặc tranh chấp về nội dung của di chúc sau này.
2. Người nước ngoài có quyền thừa kế di sản là quyền sử dụng đất không?
Về di sản thừa kế liên quan đến quyền sử dụng đất, sẽ bị hạn chế theo các quy định tại khoản 3 của Điều 186 trong Luật Đất đai 2013, cụ thể như sau: Quyền và nghĩa vụ về sử dụng đất ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.
Trong trường hợp mà tất cả những người nhận thừa kế đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không nằm trong số được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam như quy định tại khoản 1 của Điều này, thì người nhận thừa kế sẽ không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất. Tuy nhiên, họ có thể được chuyển nhượng hoặc tặng quyền sử dụng đất thừa kế theo quy định sau đây: Trong trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất, người nhận thừa kế sẽ được ghi tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Trong trường hợp tặng quyền sử dụng đất, người được tặng phải là đối tượng được quy định tại điểm e khoản 1 của Điều 179 của Luật này và phải tuân thủ quy định về nhà ở của pháp luật, trong đó người nhận thừa kế sẽ được ghi tên là bên tặng trong hợp đồng hoặc văn bản cam kết tặng; Trong trường hợp chưa có chuyển nhượng hoặc tặng quyền sử dụng đất, người nhận thừa kế hoặc người được ủy quyền có văn bản ủy quyền theo quy định sẽ nộp hồ sơ về việc nhận thừa kế tại cơ quan đăng ký đất đai để cập nhật vào Sổ địa chính.
Do đó, cần lưu ý rằng đối với trường hợp người nước ngoài nhận di sản thừa kế là quyền sử dụng đất, đặc biệt là người nước ngoài không nằm trong số được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam, phải tuân theo các quy định đã nêu trên.
3. Thế nào là di chúc có yếu tố nước ngoài?
Di chúc là việc mà một cá nhân muốn chuyển nhượng tài sản của mình cho người khác sau khi qua đời. Di chúc có thể được thể hiện thông qua di chúc miệng hoặc di chúc bằng văn bản. Thường thì di chúc được lập bằng văn bản, và chỉ khi không thể thiết lập di chúc bằng văn bản thì mới sử dụng hình thức di chúc miệng. Di chúc có yếu tố nước ngoài khi có một hoặc một số điểm liên quan đến quốc tịch hoặc vị trí địa lý nước ngoài, bao gồm: Người để lại di sản là người nước ngoài hoặc là người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Người thừa kế tài sản là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài; Tài sản thừa kế nằm ở nước ngoài.
Điều kiện để di chúc có yếu tố nước ngoài có hiệu lực và quyền năng lực để lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc được quy định như sau:
- Năng lực lập di chúc, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc: Theo khoản 1 của Điều 681 trong Bộ luật Dân sự 2015, năng lực để lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc phải tuân theo quy định của pháp luật của quốc gia mà người lập di chúc có quốc tịch vào thời điểm lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc.
- Đối với người mang quốc tịch Việt Nam: Người để lại di sản phải đáp ứng các điều kiện sau để di chúc có hiệu lực: Năng lực tinh thần đầy đủ, tỉnh táo khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, hay ép buộc. Nội dung của di chúc không vi phạm các quy định pháp luật, không xâm phạm đạo đức xã hội; hình thức di chúc phải tuân theo quy định pháp luật.
- Đối với người mang quốc tịch nước ngoài: Nếu người đó mang quốc tịch nước ngoài, thì quyền lập, thay đổi hoặc hủy bỏ di chúc phải tuân theo quy định của pháp luật của quốc gia mà người đó mang quốc tịch.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Quy định của pháp luật về di chúc, di sản, thừa kế tài sản.
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!