1. Để giảm án phạt tù cần những điều kiện gì?
Căn cứ vào Điều 63 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm mức hình phạt đã tuyên thì cần phải tuân thủ theo các trường hợp dưới đây:
- Người đã bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân, nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định, có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự, thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt. Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù có thời hạn, 12 năm đối với tù chung thân.
- Một người có thể được giảm nhiều lần nhưng phải bảo đảm chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên. Người bị kết án tù chung thân, lần đầu được giảm xuống 30 năm tù và dù được giảm nhiều lần cũng phải bảo đảm thời hạn thực tế chấp hành hình phạt là 20 năm.
- Đối với người phạm tội bị kết án về nhiều tội danh, trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải bảo đảm thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được một phần hai mức hình phạt chung.
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được hai phần ba mức hình phạt chung hoặc trường hợp hình phạt chung là tù chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo trường hợp bị kết án về nhiều tội, trong đó có tội bị kết án chung thân.
Từ đó, có thể thấy trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ, phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân có thể giảm thời hạn chấp hành hình phạt nếu:
- Đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định;
- Có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự;
- Có đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền.
Bên cạnh đó, tại Điều 64 Bộ luật Hình sự hiện hành cũng đưa ra quy định về giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt, cụ thể là người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo, thì Tòa án có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức giảm nêu trên.
Như vậy, khi thuộc vào các điều kiện nêu trên thì người đang thi hành án có thể được áp dụng hình thức là giảm án phạt tù theo quy định pháp luật.
2. Các bước để giảm thời hạn chấp hành án phạt tù
Để giảm thời hạn chấp hành án phạt tù cho người bị kết án thì cần phải thực hiện theo các bước được quy định tại Điều 38 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 sau đây:
Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ
Cơ quan có thẩm quyền xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 36 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 bao gồm:
- Trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng;
- Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu.
Cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trách nhiệm lập hồ sơ và chuyển cho Toà án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án xem xét, quyết định, đồng thời gửi 01 bộ hồ sơ đến Viện Kiểm soát cùng cấp với Tòa án. Một bộ hồ sơ xin giảm thời hạn chấp hành án phạt tù thì sẽ bao gồm các văn bản, giấy tờ như sau:
- Bản sao bản án; trường hợp xét giảm án từ lần hai thì bản sao bản án được thay bằng bản sao quyết định thi hành án;
- Văn bản của cơ quan có thẩm quyền đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù;
- Kết quả xếp loại chấp hành án phạt tù theo quý, 06 tháng, 01 năm;
Quyết định khen thưởng hoặc giấy xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về việc phạm nhân lập công;
- Kết luận của bệnh viện, hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh, cấp quân khu trở lên về tình trạng bệnh tật đối với trường hợp phạm nhân bị bệnh hiểm nghèo hoặc tài liệu thể hiện phạm nhân là người quá già yếu;
- Bản sao quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù đối với trường hợp đã được giảm;
- Tài liệu chứng minh kết quả bồi thường nghĩa vụ dân sự của người được đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Bước 2: Tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đề nghị
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Chánh án Tòa án quân sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù.
Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp.
Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung.
Bước 3: Trả kết quả
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc giảm thời hạn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, cơ quan đề nghị giảm thời hạn chấp hành án, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Sở Tư pháp nơi Tòa án ra quyết định giảm thời hạn chấp hành án phạt tù có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được giảm thời hạn chấp hành án là người nước ngoài.
Thời điểm xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được xác định theo Điều 12 Điều luật Hình sự năm 2015. Theo đó, việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được thực hiện mỗi năm 03 đợt vào các dịp như:
- Ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), ngày Quốc khánh (2/9) và tết Nguyên đán.
- Đối với các trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng, thực hiện việc xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù vào dịp ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22/12) thay cho dịp tết Nguyên đán.
- Năm để xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù được xác định từ ngày 01/01 đến ngày 31/12 của năm đó.
Ngoài ra, cần lưu ý rằng mỗi năm 01 phạm nhân chỉ được xét giảm thời hạn chấp hành án phạt tù 01 lần theo quy định tại Điều 38 Luật Thi hành án hình sự. Sau lần xét giảm đầu tiên, nếu các năm tiếp theo phạm nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật thì sẽ được xét giảm vào đúng đợt mà đã được xét giảm lần đầu. Trường hợp đã được giảm mà thời hạn tù còn lại không đủ 01 năm thì năm tiếp theo có thể đề nghị xét giảm sớm hơn 01 đợt, nhưng vẫn phải bảo đảm mỗi năm chỉ được xét giảm 01 lần.
3. Con đẻ dưới 18 tuổi mắc bệnh hiểm nghèo thì mẹ đẻ có được giảm án phạt tù không?
Căn cứ vào Điều 8 Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì mắc bệnh hiểm nghèo là trường hợp mà bệnh viện cấp tỉnh, bệnh viện quân đội cấp quân khu trở lên có kết luận là người được hưởng án treo đang bị bệnh nguy hiểm đến tính mạng, khó có phương thức chữa trị, như:
- Ung thư giai đoạn cuối, xơ gan cổ trướng, lao nặng độ 4 kháng thuốc, bại liệt, suy tim độ 3, suy thận độ 4 trở lên;
- HIV giai đoạn AIDS đang có các nhiễm trùng cơ hội không có khả năng tự chăm sóc bản thân và có nguy cơ tử vong cao.
Bên cạnh đó, tại Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì có trường hợp được giảm thời hạn chấp hành hình phạt trong trường hợp đặc biệt khi người bị kết án có lý do đáng được khoan hồng thêm như đã lập công, đã quá già yếu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì Tòa án sẽ có thể xét giảm vào thời gian sớm hơn hoặc với mức cao hơn so với thời gian và mức giảm được thực hiện theo quy định pháp luật.
Như vậy, từ những điều kiện để giảm thời hạn chấp hành án phạt từ tại mục 1 thì có thể thấy nếu con dưới 18 tuổi bị mắc bệnh hiểm nghèo không phải là điều kiện để mẹ đẻ của người đó được giảm án phạt tù. Chỉ khi chính người bị kết án bị mắc bệnh hiểm nghèo hoặc thuộc vào các trường hợp được giảm thời hạn án thì mới có thể được giảm án phạt tù.
Xem thêm: Người bị kết án phạt tù nhưng được hoãn có được quyền bầu cử không? Vui lòng gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng.