1. Toà có được giảm án cho bị cáo không kháng cáo?
Căn cứ tại những quy định chi tiết trong Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì việc sửa đổi bản án sơ thẩm được điều chỉnh nhằm đảm bảo sự công bằng và tính công tâm trong quá trình xét xử. Khoản 1 Điều 357 đã quy định một loạt các biện pháp có thể áp dụng trong việc sửa đổi bản án sơ thẩm. Trong trường hợp có căn cứ thì Hội đồng xét xử phúc thẩm được uỷ quyền quyết định về việc áp dụng các biện pháp này thì bao gồm nhưng không giới hạn ở việc miễn trách nhiệm hình sự giảm mức hình phạt hoặc thậm chí là áp dụng các biện pháp khác thuộc loại nhẹ hơn.
Đồng thời tại Khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự cũng chỉ rằng Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể tiến hành sửa đổi bản án sơ thẩm đối với những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị. Điều này nhấn mạnh vào việc đảm bảo rằng các quyết định sửa đổi bản án được thực hiện một cách đúng đắn và công bằng. Đồng thời cung cấp cơ hội cho các bên liên quan để tìm kiếm sự minh bạch và sự công bằng trong quá trình pháp luật.
Từ những quy định trên thì trường hợp có căn cứ thị Hội đồng xét xử phúc thẩm có thể sửa đổi bản án sơ thẩm cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị, cụ thể:
- Miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung; không áp dụng biện pháp tư pháp;
- Áp dụng điều, khoản của Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn;
- Giảm hình phạt cho bị cáo;
- Giảm mức bồi thường thiệt hại và sửa quyết định xử lý vật chứng;
- Chuyển sang hình thức khác thuộc loại nhẹ hơn;
- Giữ nguyên hoặc giảm mức hình phạt tù và cho hưởng án treo;
Như vậy, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn có thể sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ hình phạt cho những bị cáo không kháng cáo hoặc không bị kháng cáo, kháng nghị khi có căn cứ.
Đối với trường hợp của Nguyễn Phương Hằng Bị cáo đã bị Hội đồng xét xử phúc thẩm cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo về tội " Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân: là cơ sở không oan. Hành vi của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội. Khi xét xử thì Hội đồng xét xử đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo.
Mặc dù bị cáo Nguyễn Phương Hằng thì Hội đồng xét xử nhận định, dù bị cáo Nguyễn Phương Hằng không kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng bị cáo đã nộp tiền án phí, khắc phục hậu quả nên đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có căn cứ. Theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự giảm một phần hình phạt cho Nguyễn Phương Hằng. Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận đề nghị giảm hình phạt cho NGuyễn Phương Hằng từ 3 năm tù xuống còn 2 năm 9 tháng tù.
Từ những quy định của pháp luật quy định trên tại khoản 1, khoản 3 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì việc Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm tuyên giảm án cho Nguyễn Phương Hằng là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật.
2. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 355 trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì Hội đồng xét xử phúc thẩm được uỷ quyền với các thẩm quyền sau đây:
- Không chỉ có quyền không chấp nhận các yêu cầu kháng cáo, kháng nghị mà còn có thể quyết định giữ nguyên bản án sơ thẩm bảo toàn tình pháp lý của quyết định ban đầu
- Hội đồng cũng có thể sửa đổi bản án sơ thẩm, tuỳ thuộc vào tình hình và bằng chứng mới xuất hiện trong quá trình phúc thẩm để đảm bảo công bằng và chính xác cho các bên liên quan.
- NGoài ra thì Hội đồng có thẩm quyền huỷ bỏ bản án sơ thẩm và yêu cầu chuyển hồ sơ vụ án để tiến hành điều ra lại hoặc mở phiên toà xét xử mới
- Trong một số trường hợp nghiêm trọng thì Hội đồng có thể quyết định huỷ bỏ bản án sơ thẩm và tạm ngưng tiến trình pháp lý đặc biệt kho có những vấn đề quan trọng cần phải xem xét thêm
- Cuối cùng thì Hội đồng xét xử cũng có thể quyết định tạm ngừng việc xét xử phúc thẩm trong trường hợp cần thêm thời gian hoặc thông tin mới để đảm bảo quyết định cuối cùng được đưa ra một cách công bằng và khách quan.
Như vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền:
- Không chấp nhận kháng cáo, kháng nghị và duy trì bản án sơ thẩm: Hội đồng có thẩm quyền quyết định không tiếp nhận các yêu cầu kháng cáo hoặc kháng nghị và bảo toàn bản án sơ thẩm như ban đầu
- Sửa đổi bản án sơ thẩm: Hội đồng có thể chỉnh sửa hoặc điều chỉnh bản án sơ thẩm dựa trên các chứng cứ mới hoặc các vấn đề pháp lý phát sinh trong quá trình phúc thẩm
- HUỷ bỏ và chuyển hồ sơ vụ án để tiến hành điều tra lại hoặc mở phiên xét xử mới: TRong trường hợp có các bằng chứng hoặc thông tin mới cần phải được xem xét thì Hội đồng có thể huỷ bản án sơ thẩm và yêu cầu điều tra lại hoặc mở phiên xét xử mới
- Đình chỉ việc xét xử phúc thẩm: TRong một số trường hợp thì Hội đồng có thể quyết định tạm ngưng việc tiến hành xét xử phúc thẩm có thể do cần thêm thời gian hoặc cần thông tin bổ sung để đảm bảo quyết định cuối cùng được đưa ra một cách công bằng và minh bạch
3. Những trường hợp Hội đồng xét xử phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại hoặc xét xử lại?
Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 358 trong Bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì việc huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại hoặc xét xử lại được thực hiện trong những tình huống cụ thể sau đây, mở ra một loạt các lý do và điều kiện phức tạp hơn
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành điều tra lại trong các tình huống sau đây:
- Khi có đủ bằng chứng cho thấy rằng toà án sơ thẩm đã bỏ qua tội danh, tội phạm hoặc không khởi tố, điều tra các tội danh nghiêm trọng hơn so với tội danh đã được tuyên án trong bản án sơ thẩm;
- Khi quá trình điều tra ở toà án sơ thẩm không đạt yêu cầu về đầy đủ thông tin và toà án phúc thẩm không thể bổ sung thông tin cần thiết này;
- Khi có vi phạm nghiêm trọng về quy trình tố tụng trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố
Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền huỷ bản án sơ thẩm để tiến hành xét xử lại ở toà án sơ thẩm với một Hội đồng xét xử mới trong những tình huống sau đây:
- Khi Hội đồng xét xử sơ thẩm không được hình thành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
- Khi có vi phạm nghiêm trọng về quy trình tố tụng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm
- Khi người bị cáo được toà án sơ thẩm tuyên án không phạm tội nhưng có đủ bằng chứng cho thấy người đó đã thực hiện hành vi phạm tội
- Khi được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt, hoặc áp dụng biện pháp tư pháp đối với bị cáo mà không có đủ cơ sở
- Khi bản án sơ thẩm có những sai sót nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật, tuy nhiên không nằm trong các trường hợp mà Hội đồng xét xử phúc thẩm có thẩm quyền sửa đổi bản án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bạn đọc có thể tham khảo bài viết sau: Toà án cấp nào có quyền xét xử phúc thẩm
Bài viết trên luật MInh Khuê đã gửi tới bạn đọc chi tiết về vấn đề: Bị cáo không kháng cáo Toà án Phúc thẩm giảm án có căn cứ không? Bạn đọc có bất kỳ thắc mắc về vấn đề pháp lý trong lĩnh vực hình sự có thể liên hệ qua số tổng đài tư vấn pháp luật hình sự: 1900.6162 hoặc thông qua địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn cụ thể.