1. Hướng dẫn viết đơn xin giảm án phạt tù ?

Thưa luật sư, anh cháu 27 tuổi lái xe taxi từ 2012 ở Mộc châu. Năm 2013 anh cháu bị bắt và đến 2016 thì anh cháu bị xử tử hình vì tội vận chuyển trái phép chất ma túy số lượng lớn (đường dây báo đăng 5346 bánh) bị giam ở Quảng Ninh. Lúc xét xử thì nhà cháu không được thông báo chỉ được biết tin khi ti vi phát sóng. Trong quá trình thăm gặp anh cháu nói bị oan ức.
Khi khách hàng gọi chở đi đương dài vi người quen biết hay đến quán ăn nhà cháu ăn nên chở đi cũng không nghi ngờ là ma túy nghĩ là hoa quả thôi. Khi khai cung anh cháu nói bị ép cung và bị đánh. Anh cháu nói không biết hàng gì chỉ chở khách đi thôi nhưng họ nói cứ nhận bản cung này đi cùng lắm là vài năm thôi. Anh cháu bị đánh đau quá không chịu được đành nhận. Các anh thuê chở ở trong đường dây cũng khai nhận trong bản cung rằng anh cháu không biết chở hàng gì vì quên biết nên gọi chở đi đường dài thôi. Khi bị xử rồi, các anh trong đường dây cũng bị ngỡ khi anh cháu bị kết tội quá nặng vì biết anh cháu rất tồ dễ bị lợi dụng, không biết hàng gì mà bị xử như người cầm đầu. Các anh cùng đường dây bị xử sau khi biết án đã cùng viết đơn kháng cáo cho anh cháu, nhưng quản lý trại không nhận đơn và nói chuyện của các cậu à.
Cháu nghĩ thương anh ấy mới học hết cấp 3 suy nghĩ còn non trẻ lại tồ thì bản án cao quá. Nên cháu muốn viết đơn kháng cáo cho anh ấy thì nên viết với cương vị là người thân đại diện viết đơn cầu cứu hay là viết thay bị cáo là đơn kháng cáo như thế nào hả cô chú luật sư và nên gửi đến cơ quan nào để kháng cáo cho anh cháu ạ. Cháu không biết viết đơn kiểu gì. Cháu thấy trên mạng có biểu mẫu đơn kháng cáo nhưng đó là kiểu mẫu cho bị cáo viết, thế còn người thân trong gia đình viết thay thì nên viết thế nào cho hợp lý ạ. Liệu anh cháu có cơ hội giảm án để được sống không ạ và nếu có thể thuê luật sư thì a cháu còn cơ hội không ạ ?
Cháu rất mong cô chú luật sư tư vấn và giải đáp cho cháu với ạ.

Trả lời:

Điểm 3.2 Mục II, Thông tư Liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP quy định: “Các tội phạm về ma túy” trong Bộ luật Hình sự thì:

Tàng trữ trái phép chất ma túy” là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngoài vườn, chôn dưới đất, để trong vali, cho vào thùng xăng xe, cất giấu trong quần áo, tư trang mặc trên người hoặc theo người…) mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến việc xác định tội này”.

Còn “vận chuyển trái phép chất ma túy” là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào (có thể bằng các phương tiện khác nhau như ô tô, tàu bay, tàu thủy…; trên các tuyến đường khác nhau như đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy, đường bưu điện…; có thể để trong người như cho vào túi áo, túi quần, nuốt vào trong bụng, để trong hành lý như vali, túi xách v.v…) mà không nhằm mục đích mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép chất ma túy khác. Người giữ hộ, hoặc vận chuyển trái phép chất ma túy cho người khác, mà biết rõ mục đích mua bán trái phép chất ma túy của người đó, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy với vai trò đồng phạm.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 02/HĐTP ngày 17/4/2003 hướng dẫn áp dụng một số qui định của BLHS chỉ rõ:

“Người nào biết người khác mua chất ma tuý để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma tuý và bị bắt giữ nếu xét thấy trọng lượng chất ma tuý đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý, thì người đó là đồng phạm với người mua về tội tàng trữ hoặc vận chuyển trái phép chất ma tuý”.

Như vậy để truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy thì: Người phạm tội thực hiện tội phạm với lỗi cố ý (là trường hợp người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra; hoặc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra).

Theo thông tin dữ liệu bạn đưa ra thì nếu như anh của bạn không biết bên trong hộp mà mình chở có ma túy thì sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vì không thỏa mãn dấu hiệu về mặt chủ quan của tội vận chuyển trái phép chất ma túy là lỗi cố ý.

Ngoài ra cũng theo thông tin bạn cung cấp thì anh bạn bị cán bộ cơ quan nhà nước ép cung, dùng nhục hình để anh bạn phải nhận hành vi "vận chuyển trái phép chất ma túy". Đối với trường hợp này, bạn có thể yêu cầu anh của bạn hoặc người đại diện cho anh bạn tiến hành làm đơn tố cáo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền nhà nước giải quyết. Bởi theo quy định tại Điều 10 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 thì quyền bất khả xâm phạm về thân thể của anh bạn được bảo đảm, không ai có quyền dùng nhục hình với anh bạn:

"Điều 10. Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát, trừ trường hợp phạm tội quả tang.

Việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp, việc bắt, tạm giữ, tạm giam người phải theo quy định của Bộ luật này. Nghiêm cấm tra tấn, bức cung, dùng nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, tính mạng, sức khỏe của con người..."

Theo quy định của Điều 331 Bộ tố tụng luật Hình sự 2015 có quy định về những người có quyền kháng cáo như sau:

"Điều 331. Người có quyền kháng cáo

1. Bị cáo, bị hại, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

2. Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người dưới 18 tuổi, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà mình bào chữa.

3. Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự là người dưới 18 tuổi hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

6. Người được Tòa án tuyên không có tội có quyền kháng cáo về các căn cứ mà bản án sơ thẩm đã xác định là họ không có tội."

Như vậy nếu như bạn và gia đình bạn có nhu cầu muốn kháng cáo bản án cho anh bạn thì bạn nên xem xét yêu cầu anh trai bạn làm văn bản ủy quyền cho mình.

Tuy nhiên bạn và gia đình cũng cần phải lưu ý tại Điều 333 BLTTHS 2015 thì:

"Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị cáo, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật

2. Thẩm phán có quyền tự xử án hay không?

Được phân công giải quyết vụ án "Tranh chấp hợp đồng vay", thẩm phán TAND huyện Lấp Vò (Đồng Tháp) Lê Ngọc Tuấn – đã cố tình "ngâm" hồ sơ vụ kiện đến hơn hai năm. Sau đó, vị thẩm phán này đã tự "sáng tác" ra "đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện" và giả mạo chữ ký của đương sự để ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án (QĐĐCVGQVA).

Năm 2000, bà Trương Kế Hữu Hiền (ngụ tại số 5 đường Hùng vương, phường 2, TX Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp) có cho ông Trần Văn Đức (ngụ tại 2524 Phạm Thế Hiển, phường 6, quận 8, TP.HCM) vay 50 triệu đồng với lãi suất 1,2% tháng.

Để bảo đảm cho khoản vay này, ông Đức được ông Võ Văn Bé uỷ quyền thế chấp căn nhà và thửa đất tại số 112 ấp Khánh An, xã Trân Khánh Trung, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số 556177 do UBND huyện Lấp Vò cấp ngày 16.7.1997, cho bà Hiền. Giấy uỷ quyền này được ông Ngô Văn Khoa – Phó Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung – xác nhận.

Sau đó, do làm ăn thua lỗ, ông Đức không trả được nợ và lãi. Ngày 06.5.2002, bà Hiền làm đơn khởi kiện ông Đức, ông Bé ra TAND huyện Lấp Vò. Vụ án được giao cho thẩm phán Lê Ngọc Tuấn giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án, thẩm phán Tuấn đã cố tình kéo dài thời gian, không đưa ra xét xử . Bà Hiền đã nhiều lần đến gặp thẩm phán Tuấn và cả Chánh án TAND huyện Lấp Vò Nguyễn Văn Mỹ yêu cầu đưa vụ kiện ra xét xử nhưng chỉn lời câu trả lời là cứ chờ.

Mãi đến ngày 9.5.2008, bà Hiền mới nhận được giấy mời của TAND huyện Lấp Vò triệu tập đến để giải quyết vụ việc. Nhưng khi đến toà án thì không có ai giải quyết nên phải ra về.

Ngày 02.6.2008, TAND huyện Lấp Vò lại triệu tập bà Hiền đến giải quyết vụ kiện. Tại đây, bà Hiền bất ngờ nhận được QĐĐCVGQVA số 20/QĐ.ĐC ngày 10.6.2004 do thẩm phán Lê Ngọc Tuấn ký.

Kèm theo quyết định này là "Đơn xin rút đơn khởi kiện" đề ngày 10.6.2004 được đánh máy vi tính và có chữ ký của bà Hiền. Nhận thấy đây là việc làm bất thường của thẩm phán Lê Ngọc Tuấn vì từ trước tới nay bà chưa bao giờ làm đơn xin rút đơn khởi kiện, bà Hiền kháng cáo QĐĐCVGQVA và khiếu nại việc giả mạo chữ ký trong đơn xin rút đơn đơn khởi kiện lên TAND tỉnh Đồng Tháp.

Trong quá trình chờ TAND tỉnh Đồng Tháp giải quyết vụ kiện, qua tìm hiểu, bà Hiền mới phát hiện rằng, sau khi có QĐĐCVGQVA do thẩm phán Tuấn ký, ông Võ Văn Bé đã làm đơn cớ mất GCNQSDĐ được chính ông Ngô Văn Khoa (lúc này là Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung) ký xác nhận ngày 24.2.2005. Ngày 08.4.2005, ông Bé được UBND huyện Lấp Vò cấp GCNQSDĐ mới.

Ngày 28.11.2008, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp đã có kết luận giám định số 262/KLGĐ- PC21 kết luận chữ ký trong "Đơn xin rút đơn khởi kiện" không phải là chữ ký của bà Hiền.

Ngày 31.12.2008, TAND tỉnh Đồng Tháp ban hành Quyết định số 92/2008/QĐ-PT chấp nhận đơn kháng cáo của bà Hiền: Huỷ QĐĐCVGQVA số 20/QĐ.ĐC ngày 10.6.2004 của TAND huyện Lấp Vò.

Ngày 18.3.2009, TAND huyện Lấp Vò giải quyết lại vụ kiện theo trình tự sơ thẩm buộc ông Trần Văn Đức và ông Võ Văn Bé cùng có trách nhiệm liên đới trả cho bà Hiền 50 triệu đồng tiền vốn và 31.126.500 đồng tiền lãi.

Sau khi án tuyên, bà Hiền tiếp tục làm đơn khiếu nại yêu cầu xử lý hành vi vi phạm pháp luật của thẩm phán Lê Ngọc Tuấn; ông Ngô Văn Khoa – Chủ tịch UBND xã Tân Khánh Trung; ông Võ Văn Bé và ông Trần Văn Đức. Thế nhưng cho đến nay, việc khiếu nại của bà Hiền vẫn chưa được giải quyết. Trong khi đó, thẩm phán Lê Ngọc Tuấn lại được điều về làm thẩm phán của TAND TP Cao Lãnh.

Được biết, ở ĐBSCL đã có ít nhất hai thẩm phán (thẩm phán Nguyên Văn Thành của TAND huyện An Phú, An Giang và thẩm phán Đình Xuân Tùng của TAND huyện Cai Lậy, Tiền Giang) bị xử lý hình sự về hành vi ra bản án, quyết định trái pháp luật. Vậy mà, thẩm phán Lê Ngọc Tuấn – người được nhân danh Nhà nước để xét xử vụ án – lại cố ý giả mạo chữ ký, giả mạo đơn rút đơn yêu cầu khởi kiện của đương sự để ban hành QĐĐCVGQVA một cách trái pháp luật nhưng không bị xử lý gì. Đây là điều hết sức khó hiểu!

(MKLAW FIRM: Biên tập.)

3. Án rút gọn là gì ? Phân tích những ưu điểm của án rút gọn

Thủ tục rút gọn là thủ tục giải quyết án nhanh chóng, giúp các cơ quan tố tụng giảm tải, tránh được án quá hạn… Dù tiến bộ nhưng trên thực tế, thủ tục này đang dần bị quên lãng.

Theo Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, thủ tục rút gọn có thể được áp dụng khi vụ án có các yếu tố: Người thực hiện hành vi phạm tội bị bắt quả tang, có căn cước, lai lịch rõ ràng, sự việc phạm tội đơn giản, chứng cứ đã rõ. Cạnh đó, tội phạm thực hiện phải thuộc loại tội ít nghiêm trọng, có mức hình phạt cao nhất là ba năm tù.

Khi đã áp dụng thủ tục này, tòa phải mở phiên xử trong vòng 30 ngày kể từ ngày khởi tố vụ án (tại phiên xử, mọi thủ tục vẫn diễn ra giống bình thường).

Áp dụng lẻ mẻ

Vụ án đầu tiên được áp dụng thủ tục rút gọn là một vụ trộm cắp ở TAND quận Thanh Khê (Đà Nẵng) năm 2005. Từ khi hành vi phạm tội bị phát hiện cho đến khi đưa ra xử sơ thẩm chỉ gói gọn trong vòng một tháng, trong đó thời gian khởi tố, điều tra, truy tố chỉ mất đúng… 14 ngày. Lần lượt sau đó, nhiều nơi như Hà Nội, TP.HCM, Tây Ninh… cũng đưa vài vụ ra xử rút gọn suôn sẻ.

Với bước khởi đầu khá khởi sắc, những tưởng thủ tục rút gọn sẽ nhanh chóng được ngành tòa án áp dụng phổ biến. Vậy mà đến nay, thực tế lại trái ngược hẳn.

Ngành tòa án nhiều tỉnh không hề xử một vụ nào theo thủ tục rút gọn, vài tỉnh thì xử một, hai vụ cho có để báo cáo. Tòa án quận 11 (TP.HCM) cũng cho biết chỉ áp dụng một vụ rồi thôi Có nơi như ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình), khi được hỏi tới thì cơ quan tố tụng lắc đầu bảo không hề áp dụng.

Ở quận Bình Tân, khi hỏi con số tổng hợp thì tòa cho biết loại án này không cần báo cáo để thống kê bởi không được quan tâm. Một lãnh đạo Tòa án TP.HCM thừa nhận kể từ khi luật quy định thủ tục rút gọn đến nay, tòa cũng không thống kê để nắm tình hình.

Điều tra quá sức

Vì sao một thủ tục được cho là tiến bộ lại đang “chết mòn” trong thực tiễn xét xử?

Cái vướng đầu tiên phát sinh ngay từ cơ quan điều tra, nơi chịu nhiều áp lực nhất khi thực hiện thủ tục gút gọn. Một vụ án có hàng loạt việc phải làm như xác minh lý lịch, nhân thân, ra quyết định tạm giam, xin lệnh phê chuẩn của VKS, lấy lời khai bị can, nạn nhân, nhân chứng, rồi định giá tài sản, trưng cầu giám định… Áp lực thời gian dồn lên vai cơ quan điều tra rất cao. Một kết quả định giá có thể mất cả tháng. Việc xác minh nhân thân, nếu là người địa phương thì cũng mất một tuần, nếu ở tỉnh khác thì mất khoảng một tháng ròng rã nếu dồn hết sức.

Như vậy, chỉ cần điều tra rút gọn một vụ, điều tra viên “chạy bở hơi tai” cũng chưa chắc đã kịp thời gian. Nhân lực vốn đã thiếu, nếu chỉ dồn cho án rút gọn thì những vụ án khác đương nhiên bị kéo dài.

Cạnh đó, muốn áp dụng thủ tục rút gọn, cơ quan điều tra phải đề nghị rồi chờ VKS ra quyết định. Thường VKS phải nghiên cứu một ngày mới ra quyết định gửi trở lại. Sau đó còn phải mất thêm ba ngày để chờ khiếu nại. Nếu vì lý do nào đó, VKS không chấp nhận thì cơ quan điều tra bó tay.

Thiếu người

Đầu năm 2009, ở một quận của TP.HCM, VKS nói sẽ phấn đấu áp dụng thủ tục rút gọn nhiều hơn trong năm. Nhưng vừa qua, họp tổng kết giữa ba ngành tố tụng, VKS thừa nhận đã không thể áp dụng được vụ nào.

Lãnh đạo VKS TP.HCM lý giải: Khi áp dụng thủ tục rút gọn, lãnh đạo phải chọn những cán bộ nhạy bén pháp luật, có kinh nghiệm xét xử, có trình độ tổng hợp và hiểu biết phong phú về nhiều mặt trong xã hội. Hơn hết, người này phải có thời gian để chuyên tâm làm án rút gọn. Với điều kiện hiện tại, VKS các quận chưa thể đáp ứng.

Một nguyên nhân khác mà ba ngành công an, VKS và tòa án cùng nhìn nhận là sợ làm oan người vô tội hoặc làm sai. Mọi khâu điều tra, truy tố đến khi mở phiên xử theo thủ tục rút gọn chỉ trong vòng một tháng trong khi thực tế nhiều vụ làm tới làm lui hàng năm vẫn có khả năng oan, sai. Vì vậy, khi mà luật không hề bắt buộc phải áp dụng thủ tục rút gọn thì cứ áp dụng thủ tục bình thường cho chắc ăn.

Luật chưa “thoáng”?

Nhiều cán bộ tố tụng nhận xét luật chưa “thoáng” cho thủ tục rút gọn. Án rút gọn áp dụng cho những trường hợp bắt quả tang rõ ràng, không cần điều tra lại. Ở các nước, họ sẽ dựa vào các tài liệu, chứng cứ ban đầu làm căn cứ buộc tội nhưng ở ta, cơ quan tố tụng phải mất thêm một khoảng thời gian làm lại bản cung, hồ sơ.

Hơn nữa, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nhiều vấn đề như thời hạn giao cáo trạng, giao quyết định đưa vụ án ra xét xử… làm cán bộ tố tụng lúng túng. Mặt khác, do thiếu quy chế phối hợp nên các cơ quan tố tụng cũng chưa mặn mà bắt tay nhau áp dụng phổ biến thủ tục này.

Xử bình thường vẫn nhanh

Luật quy định rất chặt bốn yếu tố để áp dụng thủ tục rút gọn (khung hình phạt dưới ba năm, tội ít nghiêm trọng, người phạm tội bị bắt quả tang và có căn cước, lai lịch rõ ràng) nên chỉ cần vướng một là các cơ quan tố tụng đành chịu. Chẳng hạn, việc xác minh nhân thân người phạm tội ở xa hay đã rời địa phương một khoảng thời gian nào đó thì chỉ mỗi việc gửi công văn đi, công văn đến là cũng đã hết thời gian luật định.

Trên thực tế, đối với những án đơn giản thì không áp dụng thủ tục rút gọn thì việc điều tra, xét xử cũng rất nhanh, khoảng một tháng rưỡi mà thôi.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

>> Tham khảo ngay: Luật sư tranh tụng các vụ án hình sự

4. Tiêu chí đánh giá chất lượng nhân văn của luật ?

Mục tiêu khách quan cao nhất của luật là bảo đảm trật tự xã hội (1), điều kiện cơ bản đối với việc sản sinh, bảo tồn, phát triển các giá trị vật chất và tinh thần. Một trật tự pháp lý chỉ được gọi là tốt khi có khả năng gìn giữ, duy trì cấu trúc xã hội trong trạng thái hài hoà và ổn định.

1. Trật tự xã hội và công bằng xã hội – mục tiêu khách quan của luật

Trật tự xã hội, về phần mình, là một khái niệm mà sự nhìn nhận có thể rất khác biệt, tuỳ theo quan điểm tiếp cận. Thế nhưng, vượt lên trên tất cả những khác biệt, nhất là những khác biệt có nguồn gốc ý thức hệ, có một trật tự phổ quát đặc trưng bởi sự thống trị của hai nguyên tắc công bằng xã hội hay, đúng hơn, của một nguyên tắc công bằng kép, được thừa nhận rộng rãi (2): nguyên tắc công bằng số học, còn gọi là bình đẳng trong quan hệ song phương; nguyên tắc công bằng hình học, còn gọi là bình đẳng trong quan hệ đa phương.

Công bằng số học: Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ song phương đòi hỏi sự cân đối về quyền và nghĩa vụ giữa hai bên trong giao tiếp xã hội. Tư tưởng chủ đạo là mỗi người phải được và chỉ được hưởng những lợi ích thuộc về mình. Xuất phát từ đó, mọi hoạt động trao đổi sản phẩm, dịch vụ giữa con người phải bảo đảm sự cân xứng về giá trị, sự cân xứng toán học. Một người chuyển giao cho người khác một lợi ích mà không với ý định tặng cho, thì có quyền yêu cầu người nhận lợi ích giao trả cho mình một lợi ích tương đương (3); một người có hành vi gây thương tích cho người khác phải bồi thường thiệt hại để khôi phục tình trạng thể chất của nạn nhân như trước khi bị thương; một người có hành vi trộm cắp tài sản của người khác có nghĩa vụ giao trả tài sản cho người bị mất trộm;…

Công bằng hình học: Nguyên tắc bình đẳng trong quan hệ đa phương đòi hỏi việc phân phối của cải, phúc lợi xã hội phải được thực hiện tuỳ theo mức độ xứng đáng của người thụ hưởng. Sự xứng đáng, về phần mình, được đánh giá chủ yếu dựa trên sự cống hiến của con người đối với xã hội: người lao động phải được trả lương theo giá trị của lao động cơ bắp và lao động trí tuệ; người sáng tạo một tác phẩm văn chương, khoa học, nghệ thuật xứng đáng có quyền tác giả đối với tác phẩm đó. Có trường hợp việc xác định mức độ xứng đáng không dựa vào sự cống hiến của con người mà dựa vào giá trị xã hội hoặc đạo đức mà người đó đại diện. Ví dụ, khi người cha chết không để lại di chúc, người con được ưu tiên nhận di sản thừa kế so với những thành viên khác của gia đình, của xã hội, bởi điều đó cần thiết cho sự kế tục và phát triển gia đình – tế bào của xã hội.

Việc phân phối của cải, phúc lợi cho một người cũng đồng nghĩa với việc không thừa nhận của cải, phúc lợi ấy thuộc về người khác. Bình đẳng trong quan hệ đa phương, xét theo biểu hiện bề ngoài, là sự bất bình đẳng: công an xử phạt công dân vượt đèn đỏ để bảo đảm an toàn cho công dân vượt đèn xanh; nhà trường cấp học bổng cho học sinh nghèo học giỏi và không cấp học bổng học sinh giàu; người chủ doanh nghiệp dành cơ hội có việc làm cho ứng viên đáp ứng được các yêu cầu của mình và từ chối cơ hội đó đối với ứng viên không đủ điều kiện… Tình trạng bất bình đẳng ấy được lý giải bởi tính công bằng được chứa đựng bên trong nó: suy cho cùng, chính việc đối xử như nhau dành cho tất cả mọi người, bất kể tốt hay xấu, siêng năng hay lười biếng, có tài năng hay tầm thường (4)… mới là bất công. Nói cách khác, công bằng hình học, bình đẳng trong quan hệ đa phương, là sự bất bình đẳng chính đáng: bất bình đẳng, do có người được hưởng, người khác không được hưởng; chính đáng, bởi nó phù hợp với vị trí, điều kiện, hoàn cảnh của mỗi người thụ hưởng.

2. Thách thức đối với mục tiêu công bằng của luật

Luôn hướng đến các mục tiêu công bằng, nhưng luật thường xuyên đối mặt với nguy cơ xa rời các mục tiêu ấy. Các yếu tố tác động đến luật và có khả năng khiến cho trật tự pháp lý không thể đặt cơ sở cho việc xây dựng các nguyên tắc công bằng kép của trật tự xã hội rất đa dạng, trong đó có thể ghi nhận hai yếu tố chính: yếu tố chủ quan gắn chặt với vai trò của người làm luật; yếu tố khách quan có nguồn gốc từ sự can thiệp vào quá trình làm luật của người có lợi ích được luật chi phối.

Yếu tố chủ quan:Người làm luật được hiểu là người trực tiếp soạn thảo các điều khoản cụ thể của văn bản quy phạm pháp luật. Người làm luật trước hết là một con người, nghĩa là trong điều kiện bị giằng xé bởi điều thiện và điều ác, sẽ cư xử tuỳ theo kết quả đấu tranh nội tâm để lựa chọn giữa hai thái cực. Hơn nữa, người làm luật cũng có thiên hướng sống như mọi người bình thường, nghĩa là, trước hết và trên nguyên tắc, vì lợi ích của mình. Sống trong cộng đồng, cá nhân coi việc phục vụ lợi ích chung như một phương tiện để thỏa mãn lợi ích riêng. Bởi vậy, người ta nói rằng, một mặt, tính cách của người làm luật thường được phản ánh trong quy tắc được người này soạn thảo; mặt khác, khi xây dựng điều luật có liên quan đến lợi ích của mình, người làm luật thường sẽ làm thế nào để điều luật có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thoả mãn lợi ích đó.

Về phương diện chuyên môn, người làm luật có năng lực nhất định và thực hiện công việc làm luật trong chừng mực năng lực đó. Việc đánh giá, phán đoán của người làm luật có thể bị hạn chế do tầm nhìn, tầm suy nghĩ, định kiến. Không loại trừ khả năng người làm luật phạm sai lầm trong quá trình thực hiện công việc làm luật. Những sai lầm trong việc đánh giá tính công bằng hình học, bình đẳng trong quan hệ đa phương, của các giải pháp pháp lý dự kiến có thể khiến người làm luật đi đến chỗ quyết định phân phối của cải, phúc lợi cho người không xứng đáng.

Yếu tố khách quan:Trong trường hợp luật có nhiệm vụ giải quyết một vấn đề liên quan đến một lợi ích nào đó, những người theo đuổi hoặc chống lại lợi ích đó thường không ngồi yên để chờ đợi quyết định của người làm luật, mà chủ động tìm cách tác động, chi phối ý chí của người soạn thảo văn bản luật, nhằm thúc đẩy việc cho ra đời các luật có lợi cho mình. Việc tác động có thể được thực hiện thông qua các cuộc vận động chính thức hoặc không chính thức, công khai hoặc không công khai, trực tiếp hoặc gián tiếp.

Sự việc sẽ trở nên tế nhị khi luật đứng trước yêu cầu giải quyết xung đột lợi ích. Người làm luật sẽ chịu sự tác động của các nhóm lợi ích trái ngược và nhóm vận động có hiệu quả nhất có thể nắm quyền tạo ảnh hưởng đối với sự lựa chọn giải pháp của người làm luật. Không loại trừ khả năng nhóm vận động có hiệu quả nhất lại không đại diện cho lợi ích được ưu tiên bảo vệ, xét theo các tiêu chí công bằng.

Hậu quả của việc xa rời các mục tiêu công bằng của luật:Có một chân lý rất đơn giản là con người không bao giờ tự giác hành động chống lại các lợi ích của mình. Bởi vậy, một khi luật chứa đựng các quy tắc trái với các lợi ích mà công dân theo đuổi, thì không thể có chuyện công dân tự nguyên tuân thủ các quy định của luật. Tất nhiên, câu chuyện sẽ rất bình thường, nếu lợi ích không được bảo vệ không phải là lợi ích chính đáng: công dân bị buộc thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, nếu không muốn bị pháp luật xử phạt và bị dư luận phê phán. Nhưng sự việc sẽ trở nên phức tạp nếu lợi ích không được bảo vệ không phải là lợi ích trái pháp luật, thậm chí còn là lợi ích chính đáng. Trong các trường hợp đó, người ta đứng trước một luật không hợp lý, thậm chí bất công, chống lại mình. Nhà nước vẫn có thể buộc công dân sống và ứng xử trong khuôn khổ pháp luật, dù điều đó trái với mong muốn của công dân; song nhà nước sẽ phải duy trì cơ chế cưỡng chế một cách thường xuyên, bởi người dân sẽ không bao giờ từ bỏ lợi ích được cho là của mình hoặc xứng đáng thuộc về mình, nếu việc từ bỏ không được đền bù bằng một lợi ích khác.

Nói chung, một trật tự pháp lý không dựa vào nguyên tắc công bằng kép, nhất là nguyên tắc công bằng hình học, bình đẳng trong quan hệ đa phương, sẽ có nguy cơ đẩy xã hội vào tình trạng hỗn loạn do thái độ phản kháng, không tự giác tuân thủ của người dân đối với luật (5): luật không đi theo lẽ phải sẽ bị coi là luật bất công; khi đó, nó không còn là luật, mà chỉ là một hình thức của bạo lực.

3. Các biện pháp loại trừ nguy cơ xa rời mục tiêu của luật

3.1. Biện pháp mang tính phòng ngừa: dân chủ hoá quy trình làm luật

3.1.1. Nguyên tắc

Luật phải do cơ quan lập pháp ban hành: được hiểu là quy tắc ứng xử dành cho mọi công dân không phân biệt thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tôn giáo, trình độ học vấn (6), luật phải được xây dựng theo một cơ chế cho phép sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào sự hình thành các nội dung cụ thể của nó. Trong chừng mực nhất định, có thể coi luật là quy ước của các thành viên trong xã hội dân sự, được nhà nước xác nhận và bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của mình.

Với yêu cầu, ý nghĩa đó, luật, trên nguyên tắc, phải là công trình của cơ quan lập pháp. Về mặt lý thuyết, cơ quan lập pháp phản ánh cấu trúc thành phần xã hội, là nơi tập hợp những người đại diện cho các giới, các lợi ích khác biệt và nói tiếng nói của các giới, cũng như bảo vệ các lợi ích được đại diện (7). Tất nhiên, dự án luật đầu tiên chỉ có thể là tác phẩm của một nhóm nhỏ những người có sáng kiến lập pháp. Việc mổ xẻ, phân tích, góp ý đối với một dự luật trong khuôn khổ các cuộc họp của cơ quan lập pháp làm nhạt dấu ấn của cá nhân người soạn thảo và làm cho dự luật dần dần phản ánh ý chí của số đông. Các sai lầm kỹ thuật của cá nhân những người soạn thảo cũng có thể được phát hiện và được khắc phục, một khi dự thảo luật được nhiều người đọc với sự quan tâm nhất định.

Luật phải được áp dụng trực tiếp: luật, một khi được thông qua và có hiệu lực, phải được các chủ thể tiếp nhận và áp dụng một cách trực tiếp theo cách hiểu của mình. Không một chủ thể nào có quyền buộc các chủ thể khác phải hiểu luật theo ý mình (8). Đặc biệt, không thể có chuyện một cơ quan không phải là cơ quan lập pháp ra văn bản quy phạm mang ý nghĩa giải thích luật (9): sự tồn tại của quy phạm giải thích mặc nhiên có tác dụng vô hiệu hoá quy phạm được giải thích, nhất là trong điều kiện người ra quy phạm giải thích không phải là tác giả của quy phạm được giải thích.

3.1.2. Hệ quả của nguyên tắc: tính phụ trợ của hoạt động lập quy

Sự cần thiết của hoạt động lập quy: bộ máy hành pháp có chức năng chấp hành pháp luật và điều hành hoạt động quản lý của nhà nước đối với xã hội, bao gồm quản lý vĩ mô nền kinh tế, quản lý trật tự xã hội và an sinh xã hội. Với chức năng đó, bộ máy hành pháp có quyền đề ra các quy tắc ứng xử, mang đầy đủ ý nghĩa của quy phạm pháp luật, trong mối quan hệ giữa các cơ quan hành chính và giữa cơ quan hành chính với các chủ thể khác chịu sự tác động trực tiếp của hoạt động quản lý nhà nước, đặc biệt là với công dân.

Xác định đối tượng điều chỉnh của văn bản lập quy:văn bản lập quy chỉ mang tính phụ trợ và có tác dụng hoàn thiện hệ thống luật viết. Bởi vậy, văn bản lập quy có hai chức năng chính: quy định thể thức thi hành luật ở góc độ hành pháp và quy định chi tiết việc thi hành các luật chỉ có những nguyên tắc tổng quát. Với các chức năng đó, văn bản lập quy tuyệt đối không được chứa đựng các quy phạm mang tính chất nối dài luật, nghĩa là các giải pháp cho những vấn đề tranh cãi tại cơ quan lập pháp mà chưa đi đến kết cục, dù luật đã được thông qua. Văn bản lập quy cũng không được chứa đựng các quy định mang tính chất luật cụ thể, nghĩa là các giải pháp cụ thể cho các trường hợp đặc thù (10). Nối dài luật, cơ quan hành pháp trở thành người đóng thế vai cơ quan lập pháp trong việc làm luật và điều đó vi phạm các nguyên tắc cơ bản về tổ chức bộ máy nhà nước; quy định luật cụ thể, cơ quan hành pháp ra các quy phạm giải thích, điều này vượt quá thẩm quyền của cơ quan hành pháp.

Nói riêng về việc quy định chi tiết thi hành luật bằng các văn bản lập quy: một cách hợp lý, các luật trong trường hợp này chỉ có thể điều chỉnh các hoạt động quản lý nhà nước, nghĩa là các luật tạo thành ngành luật hành chính. Cơ quan lập pháp cũng có thể uỷ thác cho cơ quan hành pháp xây dựng và ban hành các quy phạm trong một số lĩnh vực khác của luật công. Song, điều cần nhấn mạnh là không có cơ sở khoa học để lý giải quyền can thiệp của cơ quan hành pháp, bằng hoạt động lập quy, vào việc hình thành các chuẩn mực chi phối các giao dịch trong cuộc sống dân sự, các tiêu chí xác định năng lực pháp luật và năng lực hành vi, các tiêu chí xác định tội danh và quyết định hình phạt trong lĩnh vực hình sự.

Quan hệ giữa hoạt động lập quy và hiệu lực của luật:trong trường hợp văn bản lập quy có tác dụng quy định thể thức thi hành luật ở góc độ cơ quan hành pháp, thì việc ra văn bản lập quy chỉ được coi như động thái phục tùng của cơ quan hành pháp đối với luật và hoàn toàn không phải là điều kiện để luật được thực thi.

Trái lại, nếu văn bản lập quy có tác dụng quy định chi tiết việc áp dụng một luật chỉ có những điều khoản mang tính nguyên tắc tổng quát, thì việc ra văn bản lập quy thực sự là điều kiện để áp dụng luật. Trong trường hợp này, cơ quan hành pháp có trách nhiệm ban hành văn bản lập quy trong thời gian thích hợp; nếu chậm trễ trong việc thực hiện nhiệm vụ lập quy mà gây thiệt hại cho các chủ thể khác, cơ quan hành pháp, hay nói chung, nhà nước phải bồi thường thiệt hại (11).

3.1.3. Bảo đảm sự tôn trọng đối với nguyên tắc

Xây dựng khung pháp lý cho việc vận động của các nhóm lợi ích: cần nhìn nhận rằng, việc vận động người làm luật ra những điều luật có lợi cho mình tự nó không nằm ngoài khuôn khổ các quyền tự do cơ bản của công dân. Thế nhưng, các cuộc vận động mang tính chất lách luật hoặc lạm dụng các quyền tự do của công dân có thể dẫn đến việc cho ra đời các luật bất hợp lý, bất công, có tác dụng làm đảo lộn trật tự các lợi ích được ưu tiên bảo vệ (12). Bởi vậy, cần xây dựng một khung pháp lý cho việc vận động của các nhóm lợi ích đối với sự hình thành các văn bản quy phạm pháp luật (13). Tốt nhất, trong điều kiện tất cả các lợi ích liên quan đều chính đáng, nên tổ chức cho các nhóm lợi ích thực hiện tranh luận công khai, trực tiếp và đa phương cùng với người soạn thảo văn bản quy phạm, theo mô hình tranh luận trước toà án trong khuôn khổ một xung đột tư pháp, để đi đến thống nhất ý kiến về một giải pháp pháp lý thể hiện sự cân bằng giữa các lợi ích (14).

Thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi cho sự phản biện xã hội đối với dự án luật: luật cho mọi người không nhất thiết là luật được xây dựng từ kết quả tham gia đóng góp công sức trực tiếp của tất cả mọi người. Hơn nữa, làm luật là công tác kỹ thuật; văn bản luật là văn bản kỹ thuật mà việc tiếp cận để khai thác nội dung chỉ có hiệu quả một khi người tiếp cận có kiến thức chuyên môn tối thiểu và có phương pháp tiếp cận thích hợp. Bởi vậy, việc tổ chức các cuộc nhóm họp, thăm dò dư luận nhằm thu thập ý kiến phản biện của toàn xã hội đối với một dự án luật là điều không hợp lý, không thiết thực. Thực tế cho thấy, hầu hết các cuộc phát động rầm rộ lấy ý kiến của nhân dân đối với các dự án luật đều mang tính hình thức và đạt hiệu quả thấp: các ý kiến, nhìn chung đều có chất lượng kém. Đó là chưa kể việc tổng hợp, xử lý, tiếp thu ý kiến lại hoàn toàn không được đặt trong một cơ chế kiểm tra khách quan về tinh thần cầu thị, tính trung thực và vô tư.

Rõ hơn, phản biện xã hội đối với dự án luật chỉ nên là sự phản biện của các giới có lợi ích liên quan và các nhà khoa học (chuyên gia và nhà luật học). Công dân phổ thông thực hiện quyền phản biện xã hội một cách có hiệu quả nhất thông qua vai trò của các đại biểu dân cử.

3.2. Biện pháp mang tính khắc phục: kiểm tra tính công bằng của luật

3.2.1. Tiêu chí kiểm tra

Công bằng tương đối: các nguyên tắc công bằng số học và công bằng hình học, như là các tiêu chí đánh giá chất lượng nhân văn của luật, không thể được định tính và định lượng theo ý chí riêng của từng cá nhân mà phải dựa vào các chuẩn mực khách quan, nghĩa là dựa vào chính pháp luật (15). Về mặt kỹ thuật, trật tự pháp lý được hình dung như một kim tự tháp: đứng ở vị trí tối thượng là hiến pháp, kế đó là các đạo luật, rồi đến các văn bản lập quy. Bởi vậy, các tiêu chí đánh giá tính công bằng của văn bản quy phạm có thể được tóm gọn thành các quy tắc mô tả điều kiện để trật tự pháp lý tồn tại bền vững, nghĩa là:

- Luật phải phù hợp với hiến pháp;

- Các văn bản lập quy phải phù hợp với luật.

3.2.2. Cơ chế kiểm tra

Kiểm tra khách quan và tự kiểm tra: kiểm tra khách quan được hiểu là việc kiểm tra được thực hiện bởi người không trực tiếp tạo ra đối tượng được kiểm tra. Việc kiểm tra khách quan đối với một văn bản quy phạm pháp luật là việc kiểm tra do chủ thể không phải là người đã ban hành văn bản quy phạm được kiểm tra (16). Tất nhiên, người ban hành văn bản quy phạm có quyền kiểm tra lại văn bản do chính mình ban hành và tự mình sửa đổi, huỷ bỏ những văn bản, quy định mà mình cho là không phù hợp với hiến pháp và luật.

Kiểm tra hành chính và kiểm tra của cơ quan xét xử: kiểm tra hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là việc kiểm tra thực hiện bởi cơ quan cấp trên, trong trật tự quản lý nhà nước đối với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan cấp dưới ban hành. Kiểm tra của cơ quan xét xử đối với văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là việc kiểm tra thực hiện bởi toà án trong quá trình hoạt động tố tụng đối với văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp hoặc cơ quan hành pháp ban hành. Phạm vi đối tượng kiểm tra của cơ quan xét xử rộng hơn so với kiểm tra hành chính.

Bảo đảm sự công bằng: kiểm tra khách quan của cơ quan xét xử (17). Kiểm tra hành chính đối với văn bản quy phạm pháp luật tồn tại theo đúng logic của quan hệ hành chính – quản lý. Tuy nhiên, cơ chế kiểm tra hành chính không thể là sự bảo đảm tốt nhất cho việc loại trừ các văn bản quy phạm không đạt các tiêu chí công bằng, thậm chí còn chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa tính công bằng của luật.

Một mặt, mối quan hệ thượng cấp – thuộc quyền có thể khiến cho cơ quan kiểm tra làm ngơ trước các quy định trái luật của cơ quan được kiểm tra. Bằng cách đó, cơ chế kiểm tra hành chính dung dưỡng, bao che thay vì loại trừ luật bất công.

Mặt khác, cũng mối quan hệ thượng cấp – thuộc quyền có thể khiến cơ quan được kiểm tra buộc phải chấp nhận những phán xét chủ quan, nếu không muốn nói là tuỳ tiện, áp đặt của cơ quan kiểm tra, về chất lượng văn bản quy phạm do mình ban hành. Cơ chế kiểm tra hành chính, do đặc điểm riêng của nó, không cho phép cơ quan được kiểm tra có điều kiện tự bào chữa, tự bảo vệ trong khuôn khổ tranh luận công khai, đối tịch, sòng phẳng. Sự lệ thuộc hành chính của cơ quan được kiểm tra đối với cơ quan kiểm tra khiến cho các giao tiếp trong khuôn khổ kiểm tra hành chính có xu hướng mang tính một chiều: cơ quan kiểm tra hạch hỏi và truyền lệnh; cơ quan được kiểm tra giải trình và thực hiện mệnh lệnh.

Vả lại, cơ chế kiểm tra hành chính, do đặc điểm của nó, không thể được kích hoạt theo sáng kiến của công dân (18). Có thể coi kiểm tra hành chính như một loại kiểm tra nội bộ, là “chuyện trong nhà” của các cơ quan quản lý nhà nước. Điều này trở nên bất hợp lý trong điều kiện các quy phạm được kiểm tra chi phối ứng xử của công dân trong quan hệ xã hội.

Suy cho cùng, trong một thể chế lành mạnh, chỉ có toà án mới có quyền nói tiếng nói của công lý, cả công lý trong cuộc sống tư nhân, trong hoạt động quản lý nhà nước và trong việc làm luật. Bởi vậy, việc thẩm định tính hợp hiến của một đạo luật, tính hợp luật của một văn bản lập quy, theo một cơ chế kiểm tra khách quan, phải là một phần của hoạt động tài phán chuyên nghiệp. Việc giao cho toà án quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật còn có tác dụng bảo đảm khả năng tham gia vào việc kiểm tra, thông qua một án kiện, của các chủ thể chịu sự chi phối của luật, đặc biệt là các công dân và các pháp nhân theo luật dân sự. Nói cách khác, giao quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật cho cơ quan xét xử là phù hợp với yêu cầu bảo đảm dân chủ.

(MINH KHUE LAW FIRM: Biên tập.)

5. Phân tích và cho một bản án chưa phù hợp thực tế ?

Ở vào tuổi gần 80, ông Nguyễn Văn Cơi (SN 1931, ngụ ấp Thuận Hòa 1, xã Hòa Khánh Nam, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An) bỗng nhiên trở thành bị đơn trong một vụ kiện tranh chấp quyền sử dụng đất. Ông càng không hiểu vì sao mảnh đất mà ông được cho cách đây 40 năm lại biến thành đất của người khác, để rồi bị tuyên phải dỡ nhà để trả đất.

Đất được cho thành đất chiếm đoạt (?!)

Bằng giọng run run do tuổi cao sức yếu, ông Cơi kể: Vào năm 1970, ông được ông Nguyễn Văn Thắng (đã mất vào năm 2000) cho một cái ao và một cái gò ở ấp Thuận Hòa 1 để nuôi cá, trồng cây. Việc cho đất được lập giấy tay, ông Thắng ký tên, có con ông Thắng làm chứng. Đến năm 1999, ông cho con gái là bà Nguyễn Thị Bình và chồng mảnh đất trên để cất nhà ở, diện tích khoảng 75m².

Đột nhiên, 10 năm sau, ông Lâm Văn Hòa (cùng ngụ tại ấp Thuận Hòa 1) lại tuyên bố rằng đây là đất của ông đã cho ông Cơi mượn vào năm 2000, nay yêu cầu ông Cơi trả lại đất cho ông. Để chứng minh, ông Hòa đưa ra Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở (còn gọi là “sổ đỏ”) đối với phần đất trên do ông đứng tên, được cấp vào năm 1997. Do ông Cơi không đồng ý giao đất, ông Hòa cho rằng ông Cơi muốn chiếm đoạt đất của mình nên khởi kiện vụ việc ra tòa án.

Tại phiên xử sơ thẩm vào tháng 4-2009, hai người con của ông Thắng là ông Nguyễn Văn Ngừng và Nguyễn Văn Đuồi cùng xác nhận: Phần đất tranh chấp là của ba mình cho ông Cơi. Dù vậy, TAND huyện Đức Hòa vẫn tuyên ông Hòa thắng kiện, buộc vợ chồng bà Bình phải tháo dỡ, di dời nhà và vật kiến trúc có trên đất để giao lại đất cho ông Hòa.

Cho rằng phán quyết của tòa án cấp sơ thẩm không đúng, ông Cơi và vợ chồng bà Bình làm đơn kháng cáo, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm công nhận cho mình quyền sử dụng đất đối với mảnh đất đã được cho và sử dụng ổn định gần 40 năm qua. Tuy nhiên, tại bản án phúc thẩm số 202/2009/DS-PT ngày 22-6-2009, TAND tỉnh Long An nhận định rằng phía ông Cơi không chứng minh được điều này nên bác kháng cáo, tuyên y án sơ thẩm.

Những chi tiết bị bỏ qua

Ở cả hai cấp xét xử - sơ thẩm và phúc thẩm, lợi thế nghiêng về phía ông Lâm Văn Hòa vì ông đứng tên trên “sổ đỏ” đối với mảnh đất bị tranh chấp. Thế nhưng, một số chi tiết cho thấy có khả năng “sổ đỏ” bị cấp sai cho đối tượng sử dụng trong thực tế lại chưa được quan tâm xem xét.

Trong tâm trạng bức xúc, bà Võ Thị Hiếu- một người dân ở đây - nói với chúng tôi: “Sống ở đây lâu nên tôi biết rõ đất của ai. Năm 1970, ông Thắng có cho tôi hay rằng mảnh đất này ở xa nhà ổng, hơn nữa vì muốn trả ơn ông Cơi giúp trông coi ruộng giùm nên ổng đem phần đất này cho ông Cơi. Tuy ông Thắng đã mất nhưng con của ổng và người dân quanh đây đều có thể làm chứng chuyện này. Nay tòa xử như vậy thì oan ức, thiệt thòi cho ông Cơi quá!”.

Một người khác là ông Lê Văn Hải cho biết thêm: “Tôi nguyên là kế toán của Tập đoàn số 1 ấp Thuận Hòa 1 xã Hòa Khánh Nam. Vào năm 1984, khi tập đoàn đo diện tích đất để lập bản vẽ đất đai, phần đất này ghi là do ông Cơi đứng tên. Giờ tự nhiên ông Hòa lại được cấp “sổ đỏ”, đứng ra tranh giành đất với ông Cơi là không đúng”.

Cùng với bà Hiếu và ông Hải, nhiều người dân sinh sống từ lâu ở khu vực này đều viết giấy xác nhận (có chứng thực chữ ký của UBND xã Hòa Khánh Nam) rằng mảnh đất do gia đình ông Cơi sử dụng từ năm 1970 là do ông Thắng cho. Không chỉ vậy, tại cuộc họp lấy ý kiến của khu dân cư về nguồn gốc đất đang bị tranh chấp do UBND xã Hòa Khánh Nam tổ chức vào ngày 19-6-2009, các hộ dân tham gia cuộc họp đều khẳng định đây là đất thuộc về ông Cơi. Ngoài ra, sau khi xác minh, lãnh đạo UBND xã cũng xác nhận nội dung trên vào đơn của bà Bình.

Đáng tiếc, theo lời ông Cơi và những người dân mà chúng tôi tiếp xúc, sự xác nhận trên đã không được tòa án xem xét.

Việc TAND huyện Đức Hòa và TAND tỉnh Long An căn cứ vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tuyên ông Hòa thắng kiện là không sai. Nhưng nếu tòa án quan tâm đến những chi tiết nêu trên, từ đó có bước đề nghị chính quyền địa phương cung cấp thông tin về nguồn gốc mảnh đất tranh chấp thì có lẽ những bản án đã được tuyên phù hợp thực tế hơn. Dù biết bản án đã có hiệu lực, nhưng gia đình ông Cơi vẫn trông mong bản án sẽ được xem xét lại, để sự công bằng của luật pháp đến với mình.

(MKLAW FIRM: Biên tập.)