1. Giảm án là gì? Giảm án có vai trò như thế nào?
Giảm án là một khái niệm trong hệ thống pháp luật của Việt Nam chỉ việc giảm nhẹ hình phạt đối với người phạm tội dựa trên các điều kiện cụ thể. Quyết định về giảm án được quy định trong Bộ Luật Hình Sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Việc giảm ảnh trong hệ thống pháp luật hình sự nhằm đảm bảo công lý và sự công bằng trong việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tội, một số vai trò của giảm án
- Tính nhân văn và sự công bằng: giảm án giúp đảm bảo tính nhân văn và sự công bằng trong việc xử lý tội phạm đôi khi mức án ban đầu có thể quá nặng so với mức độ của tội phạm hoặc hoàn cảnh cá nhân của người phạm tội. Việc giảm án có thể tương xứng hơn với sự vi phạm và tạo điều kiện cho người phạm tội có cơ hội sửa chữa phục hồi và tái hòa nhập xã hội.
- Khuyến khích sự thú tội và hợp tác trong quá trình điều tra: giảm án có thể khuyến khích người phạm tội thú tội và hợp tác trong quá trình điều tra, khi người phạm tội có cơ hội nhận được mức án giảm nhẹ hơn và cung cấp thông tin quan trọng về các tội phạm khác giúp tăng cường công tác điều tra và đấu tranh chống tội phạm
- Đảm bảo sự linh hoạt của hệ thống pháp luật: giảm án giúp đảm bảo sự linh hoạt và tùy chỉnh trong việc áp dụng pháp luật. Mức án ban đầu có thể không phản ánh đầy đủ các tình tiết và hoàn cảnh cụ thể của vụ án. Giảm án cho phép tòa án xem xét và điều chỉnh hình phạt để đảm bảo tính công bằng và phù hợp
- Tạo động lực cho sự cải thiện và hồi phục: giảm án có thể tạo động lực cho người phạm tội thay đổi và cải thiện hành vi. Khi người phạm tội nhận thấy rằng có cơ hội giảm án nếu họ tuân thủ các quy định tham gia vào các hoạt động phục hồi và tu tập, bản thân họ có khả năng thay đổi tích cực và phục hồi sau khi đã phạm tội.
Tuy nhiên việc giảm án cũng cần được thực hiện một cách cân nhắc và công bằng đảm bảo rằng nó không gây ra sự thiếu trách nhiệm và không thúc đẩy việc hạn chế vi phạm pháp luật.
2. Các trường hợp được xem xét giảm án
Trong quy định của pháp luật Việt Nam để thể hiện tính nhân văn cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm trong Bộ Luật Hình Sự 2015 có quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Đối với các bị cáo
Căn cứ điều 51 Bộ luật Hình Sự 2015 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau:
- Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm
- Người phạm tội tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết
- Phạm tội trong trường hợp vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội
- Phạm tội trong trường hợp bị kích động với tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra
- Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không phải do mình tự gây ra
- Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn
- Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng
- Phạm tội vì bị người khác đe dọa hoặc cưỡng bức
- Phạm tội trong trường hợp bị hạn chế khả năng nhận thức mà không phải do lỗi của mình gây ra
- Phạm tội do lạc hậu
- Người phạm tội là phụ nữ có thai
- Người phạm tội là người đủ 70 tuổi trở lên
- Người phạm tội là người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng
- Người phạm tội là người có bệnh hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình
- Người phạm tội tự thú người phạm tội thành khẩn khai báo hoặc ăn năn hối cải
- Người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện hoặc điều tra tội phạm
- Người phạm tội lập công chuộc tội
- Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất chiến đấu, học tập hoặc công tác
- Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của Liệt sĩ, người có công với cách mạng
Ngoài ra một số tình tiết khác cũng được xem xét để giảm ảnh như:
- Bị cáo là thương binh hoặc người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị em ruột là liệt sĩ
- Người bị hại cũng có lỗi
- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba
- Gia đình bị cáo đã sửa chữa bồi thường thiệt hại thay bị cáo
- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đối với trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khỏe cho người bị hại và gây việc thiệt hại về tài sản
- Phạm tội do phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như chống bão, lũ lụt, cấp cứu
- Bị cáo tự nguyện giao nộp ít nhất 1/2 số tiền thu lợi bất chính hoặc tiền phạt bổ sung theo bản án, quyết định của tòa án
Bên cạnh đó bộ luật hình sự còn có quy định về các trường hợp giảm mức hình phạt đã tuyên được nêu rõ tại điều 63 Bộ Luật Hình Sự 2015:
- Đối với trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ phạt tù có thời hạn hoặc phạt tù chung thân nếu đã chấp hành hình phạt được một thời gian nhất định có nhiều tiến bộ và đã bồi thường được một phần nghĩa vụ dân sự theo đề nghị của Cơ quan thi hành án, Tòa án có thể quyết định giảm thời gian chấp hành hình phạt.
- Một người có thể được giảm nhiều lần nhưng phải đảm bảo chấp hành được 1/2 mức hình phạt đã tuyên. Trong trường hợp người bị kết án về nhiều tội trong đó có tội bị kết án phạt tù chung thân thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu xuống 30 năm tù sau khi đã chấp hành được 15 năm tù và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành là 25 năm.
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới ít nghiêm trọng do cố ý thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 1/2 mức hình phạt chung
- Đối với người đã được giảm một phần hình phạt mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới nghiêm trọng rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì Tòa án chỉ xét giảm lần đầu sau khi người đó đã chấp hành được 2/3 mức hình phạt chung
- Trường hợp hình phạt chung là từ chung thân thì việc xét giảm án thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành đối với người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc người bị kết án tử hình trong trường hợp quy định tại điểm b điểm c khoản 3 điều 40 và điều 63 Bộ Luật Hình Sự 2015 thì thời gian chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 25 năm và dù được giảm nhiều lần nhưng vẫn phải đảm bảo thời gian thực tế chấp hành là 30 năm.
3. Con học giỏi bố mẹ có được xem xét giảm án hay không?
Căn cứ khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự có liệt kê 22 tình tiết giảm nhẹ giống như phân tích ở trên, ta có thể thấy thành tích học tập của con cái lại không nằm trong 22 tình tiết giảm nhẹ này. Tuy nhiên tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình Sự 2015 quy định toà án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án. Tình tiết khác được giải thích tại Nghị quyết 01/2000 / NQ/HĐTP các tình tiết dưới đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:
Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, Người Mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của nhà nước.
Do đó đối với trường hợp con học giỏi bố mẹ có được xem xét giảm án hay không còn tùy thuộc vào việc người con đó có đáp ứng được với điều kiện đã nêu trên. Nếu người con của bị cáo thuộc trường hợp người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được nhà nước trao tặng danh hiệu thì bố mẹ bị cáo có thể được xem xét giảm nhẹ tội danh. Tuy nhiên việc xem xét giảm nhẹ tùy thuộc vào mức độ phạm tội của bị cáo.
Để hiểu thêm về vấn đề trên bạn nào có thể tham khảo bài viết Gảm án là gì khái niệm về giảm án được hiểu như thế nào? của luật Minh Khuê.
Trên đây là giải đáp của luật Minh Khuê về trường hợp "Con học giỏi bố mẹ có được giảm án không?". Mong rằng bài viết trên là tài liệu tham khảo hữu ích dành cho bạn. Bạn đọc có bất kỳ thắc mắc nào vui lòng liên hệ tổng đài 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự và giải đáp trực tiếp. Quý khách hàng có nhu cầu báo giá dịch vụ tư vấn vui lòng gửi yêu cầu về địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Cảm ơn bạn đã quan tâm theo dõi.