Cô 3 tôi cưới 1 người đã có con riêng và không có con chung. cô 4 tôi thì có 3 ngưòi con gái trong đó có 1 người đủ 18 tuổi. bác 5 tôi không lấy vợ và không có con. ba tôi có 2 người con gái trong đó tôi trên 18t và là người lớn nhất trong những người cháu. Chú 8 tôi có 2 người con trai đều không đủ 18t. Chú út tôi có 1 trai 1 gái đều không đủ 18t, đứa con trai là cháu đích tôn. Bởi vì hiện tại bà tôi vẫn còn nên tài sản hiện giờ là tài sản chung.

Tôi muốn hỏi nếu tranh chấp thừa kế thì sẽ chia như thế nào theo quy định pháp luật hiện hành và tôi được hưởng quyền lợi như thế nào. Nếu ba tôi không nhận phần thừa kế thì phần đó có thuộc quyền sở hữu của tôi hay không. Phần người con trai không cùng huyết thống của cô 3 tôi có được nhận phần thừa kế đó hay không?

Thông tin bổ sung:

Tài sản để lại: là đất đai, không có sổ đỏ. Ông bà có đăng ký kết hôn, ông là người đứng tên trên sổ đỏ.

Ông bà sinh dc 6 người con, 1 ng mất không có con, hiện tại 5 người con vẫn đang chung sống trên diện tích.

Mong Qúy công ty sớm phản hồi!

 

Luật sư tư vấn:

Căn cứ quy định của: Bộ luật dân sự 2015; Luật đất đai 2013; và Luật hôn nhân và gia đình 2014 có thể phân tích cụ thể vướng mắc mà Bạn đang gặp phải như sau: 

Để làm rõ yêu cầu của Qúy khách, Luật Minh Khuê sẽ làm rõ hai vấn đề đó là xác định di sản để lại và phân chia di sản.

 

1. Xác định di sản để lại

Đầu tiên phải xác định được, tài sản là đất đai mà ông Qúy khách để lại là tài sản chung của ông bà Qúy khách hay là tài sản riêng của ông Qúy khách.

Điều 612 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

"Điều 612. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

Theo quy định tại Điều 612 Bộ luật dân sự, Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Thông tin do Qúy khách cung cấp chưa rõ tài sản mà ông Qúy khách để lại là tài sản chung hay tài sản riêng với bà Qúy khách. Vì vậy, Luật Minh Khuê chia thành hai trường hợp sau:

 

Trường hợp 1: Tài sản đất đai mà ông Qúy khách để lại là tài sản riêng của ông Quý khách.

Nếu tài sản mà ông Qúy khách để lại là tài sản riêng, thì toàn bộ tài sản này sẽ được phân chia theo pháp luật vì ông Qúy khách mất đi không để lại di chúc. (Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 650 Bộ luật dân sự 2015).

 

Trường hợp 2: Tài sản đất đai mà ông Qúy khách để lại là tài sản chung của ông bà Qúy khách.

Khoản 2 Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình 2014 Quy định như sau :

« ​Điều 66. Giải quyết tài sản của vợ chồng trong trường hợp một bên chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết

1. Khi một bên vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì bên còn sống quản lý tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp trong di chúc có chỉ định người khác quản lý di sản hoặc những người thừa kế thỏa thuận cử người khác quản lý di sản.

2. Khi có yêu cầu về chia di sản thì tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận về chế độ tài sản. Phần tài sản của vợ, chồng chết hoặc bị Tòa án tuyên bố là đã chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.

3. Trong trường hợp việc chia di sản ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của vợ hoặc chồng còn sống, gia đình thì vợ, chồng còn sống có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế phân chia di sản theo quy định của Bộ luật dân sự.

4. Tài sản của vợ chồng trong kinh doanh được giải quyết theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác. »

Như vậy, nếu tài sản của ông Qúy khách để lại là tài sản chung của ông bà Qúy khách thì một nửa tài sản đó được đem chia theo quy định của pháp luật về thừa kế. Để xác định được tài sản của ông Qúy khách để lại là tài sản chung hay tài sản riêng với bà Qúy khách. Qúy khách cần xác định được tài sản mà ông để lại có được hình thành trong thời kỳ hôn nhân của bà không? Hoặc ông bà có thỏa thuận nào khác về tài sản này không. Vì Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau :

« Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Sau khi đã xác định được tài sản để lại là tài sản chung hay tài sản riêng, từ đó xác định được khối tài sản mang ra phân chia theo pháp luật thì vấn đề tiếp theo cần làm rõ là việc di sản được phân chia như thế nào?

 

2. Phân chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật.

Bộ luật dân sự 2015 Quy định như sau:

Điều 649. Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.

Điều 650. Những trường hợp thừa kế theo pháp luật

1. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

2. Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.

“Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định này, đầu tiền phải xác định được những người ở hàng thừa kế thứ nhất là ai, những người này sẽ được hưởng phần chia di sản bằng nhau. Những người ở ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo thông tin Qúy khách cung cấp, Ông bà sinh dc 6 người con, 1 ng mất không có con, hiện tại 5 người con vẫn đang chung sống trên diện tích.

Vậy những người ở hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: bà Qúy khách và 5 người con. Một người con mất nhưng người này không có con nên không đặt ra vấn đề thừa kế thế vị.

Do vậy, di sản mà ông Qúy khách để lại được chia đều cho bà Qúy khách và năm người con đang còn sống.

Nếu ba Qúy khách không nhận phần thừa kế thì phần đó không thuộc quyền sở hữu của Qúy khách. Vì Qúy khách thuộc Hàng thừa kế thứ hai. Qúy khách hoặc những người cháu khác chỉ được hưởng di sản khi hàng thừa kế thứ nhất không còn ai do đã chết.

Lưu ý: Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có được lập di chúc không?

 Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng cảm ơn!