1. Lãi suất vay trong hợp đồng tín dụng

Trong hợp đồng tín dụng, bên vay bao giờ cũng phải trả thêm một khoản tiền, ngoài khoản tiền vốn gốc ban đầu, khoản tiền tăng thêm này là tiền lãi tỷ lệ % của tiền lãi so với tiền gốc ban đầu được gọi là lãi suất. Lãi suất được áp dụng trong các loại hợp đồng tín dụng để tính lãi tiền vay mà khách hàng vay phải trả cho tổ chức tín dụng cho vay 

Để có tiền cho khách hàng vay, các tổ chức tín dụng phải tiến hành hoạt động huy động vốn từ các nguồn tiền nhàn rỗi của người dân hoặc vay của các tổ chức tín dụng khác, các tổ chức tín dụng này thường là ngân hàng, hoặc chính là công ty mẹ của tổ chức tín dụng đó và dĩ nhiên phải chịu một mức lãi suất được ấn định cùng những chi phí quản lý khác, vì vậy theo quy luật lãi suất bình quân tiền vay phải cao hơn lãi suất bình quân tiền gửi, trong đó lãi suất bình quân trong hợp đồng tín dụng cũng được xác định khác nhau về thời hạn vay, mức độ rủi ro của những khoản vay khác nhau. 

 

2. Đặc điểm về lãi suất vay trong hợp đồng tín dụng

Trong hợp đồng tín dụng các bên phải xác định cụ thể cả về lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn, cả hai loại lãi suất này đều phải dựa vào mức lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước ban hành theo từng thời kỳ. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Đây là lý do tại sao phải xác định cụ thể lãi suất trong hạn và lãi suất quá hạn, vì đây chính là cơ sở để các bên giao dịch thực hiện việc thanh toán khi đến hạn hoặc là cơ sở giải quyết khi có tranh chấp về khoản vay. Ở Việt Nam, lãi suất cơ bản trong từng thời kỳ do Ngân hàng nhà nước ấn định, mức lãi suất này không được xác định trên cơ sở thị trường vì nó không mang tính thị trường, đây là mức lãi suất tối thiểu chung dùng để điều chỉnh chính sách tiền tệ, tuy nhiên vẫn có thể bù đắp được các chi phí trong hoạt động cấp vốn để có thể có được mức lợi nhuận bình quân cho phép của các tổ chức tín dụng. 

Đặc điểm lãi suất vay của hợp đồng tín dụng tín chấp: riêng về hoạt động vay tiêu dùng tại các công ty tài chính, đây là hoạt động vay mượn khá đặc thù, dựa trên tín chấp là chủ yếu và các thủ tục giấy tờ khá đơn giản, nên độ rủi ro cao hơn so với các hình thức tín dụng thông thường. Đặc điểm đáng lưu ý nhất của lãi suất vay trong hợp đồng tín dụng tín chấp của công iy tài chính là mức lãi suất rất cao, như đã phân tích, lãi suất cho vay tiêu dùng của các ngân hàng thương mại tương đối hợp lý và thường thấp hơn so với lãi suất cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính. Mức lãi suất của các công ty tài chính thường cao hơn nhiều so với các ngân hàng thương mại. Đa số các ngân hàng thương mại và các công ty tài chính tiêu dùng đều áp dụng tính lãi suất trên dư nợ thực tế (dư nợ giảm dần), một số tổ chức tín dụng có đề cập đến tính lãi suất trên dư nợ ban đầu (đối với cho vay trả góp, các sản phẩm còn lại đều tính trên dư nợ thực tế) nhưng đồng thời vẫn quy về lãi suất trên dự nợ thực tế. Các ngân hàng thương mại thường quy định lãi suất cố định theo từng gói sản phẩm, lãi suất này hầu như được cố định đối với tất cả các đối tượng vay, và nếu khác cũng chỉ là sự điều chỉnh rất ít. Trong khi đó, các công ty tài chính tiêu dùng đều áp dụng mức lãi suất tối thiểu dựa trên tính toán về các mức chi phí quản lý và vốn, sau đó, điều chỉnh lãi suất cho vay theo bảng chấm điểm đối với từng đối tượng khách hàng, từng khoản vay , phụ thuộc vào các điều kiện như quy mô khoản vay, thời hạn vay, mức độ rủi ro của khách hàng cụ thể. Do đó, mức lãi suất là rất linh hoạt và dựa trên các điều kiện thực tế của khách hàng vay cũng như tính chất khoản vay.

 

3. Mức lãi suất vay trong hợp đồng tín dụng tín chấp/tín dụng tiêu dùng của công ty tài chính, ngân hàng

Lãi suất trong hợp đồng tín dụng tín chấp/ hợp đồng tín dụng tiêu dùng là lãi suất cho vay do công ty tài chính ấn định, thông tuq đó, người vay tiền phải trả cho công ty tài chính khi vay, lãi suất này được chia thành nhiều mức dựa theo từng hình thức vay khác nhau chẳng hạn vay trả góp, vay qua thẻ tín dụng , vay tiêu dùng, vay ngắn hạn, vay trung hạn, vay dài hnaj và thường là mức lãi suất thỏa thuận dưới hai hình thức là lãi suất trên dư nợ gốc được trả dần trong suốt thời gian vay đối với các khảon vay tiêu dùng cá nhân hay lãi suất trên dư nợ giảm dần.

 

3.1 Lãi suất trên dư nợ gốc

Lãi suất cố định trên dư nợ gốc là lãi sẽ được tính trên số tiền vay ban đầu trong suốt thời hạn vay. 

Ví dụ 1: Khi khách hàng vay 100.000.000 đồng, thời hạn 1 năm (12 tháng), trong suốt 12 tháng này, lãi luôn được tính trên số tiền nợ gốc 100.000.000 đồng.

Tính lãi suất vay theo số dư nợ gốc, áp dụng theo công thức tính sau:

Tiền lãi hàng tháng = dư nợ gốc x lãi suất vay/ thời hạn vay

Ví dụ 2: Anh Nguyễn Văn X vay 80 triệu, trong thời gian 12 tháng, Lãi suất ngân hàng 10%/ năm

- Có nghĩa là, số tiền gốc anh X phải trả hàng tháng : 80 triệu/12 tháng = 6 triệu 667 ngàn

- Số lãi phải trả ngân hàng hàng tháng là: (80 triệux10%)/12 tháng = 667 ngàn. Tổng số tiền anh X phải trả hàng tháng là 7.334.000 đồng

 

3.2 Lãi suất trên dư nợ giảm dần

Áp dụng phương thức này tiền lãi tính trên số tiền thực tế mà khách hàng còn nợ sau khi đã trừ phần tiền gốc kháh hàng đã trả trong những tháng trước đó.

Ví dụ 3: Khách hàng vay 100.000.000 đồng, thời hạn 1 năm (12 tháng), tháng đầu tiên lãi được tính trên 100.000.000 đồng, khách hàng thanh toán bớt nợ gốc 10.000.000 đồng, tháng thứ hai lãi sẽ chỉ tính trên 90.000.000 đồng khách hàng trả bớt nợ gốc thêm 10.000.000 đồng, tháng thứ 3, lãi sẽ chỉ tính trên 80.000.000 đồng . Những tháng tiếp theo sau đó lãi sẽ được tiếp tục tương tự theo công thức này. 

Cụ thể như sau:

- Tiền gốc hàng tháng= số tiền vay/ số tháng vay

- Tiền lãi tháng đầu = số tiền vay x lãi suất vay theo tháng

- Tiền lãi các tháng tiếp theo = số tiền gốc còn lại x lãi suất vay.

Ví dụ 4: Anh Nguyễn Văn Y, vay ngân hàng số tiền là 80 triệu, theo hình thức trả lãi theo số dư nợ giảm dần. Kỳ hạn vay tiền 12 tháng, lãi suất vay 10%/ năm 

- Tiền gốc trả hàng tháng = 80 triệu/12= 6 triệu 667 ngàn

- Tiền lãi tháng đầu = (80 triệux10%)/12= 667 ngàn

- Tiền lãi tháng thứ hai= (80 triệu - 6 triệu 667 ngàn)x10%/12= 611 ngàn 108 đồng

 

3.3 Lãi suất thỏa thuận

Lãi suất thỏa thuận là một yếu tố của phương thức cho vay nhất định mà lãi suất của phương thức này lãi sẽ được ngân hàng thể hiện thỏa thuận với khách hàng để cho vay với lãi suất cao hơn với lãi suất trần đối với các khoản vay trung và dài hạn, lãi suất thỏa thuận là ngân hàng trung ương sẽ để cho các tổ chức tín dụng tự thỏa thuận lãi suất huy động và cho vay đối với khách hàng.

Lãi suất thỏa thuận là cơ sở vững chắc khuyến khích cho các tổ chức tín dụng, đặc biệt là các công ty tài chính chủ động xác định mức lãi suất cho vay dựa trên những yếu tố: chi phí vốn đầu vào, mức độ rủi ro của từng khách hàng, lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh cũng như nhân thân của họ và một số yếu tố liên quan khác. Việc đánh giá khách hàng diễn ra rõ hơn, nhanh hơn: Khách hàng có uy tín sẽ được hưởng lãi suất thấp, còn khách hàng ít uy tín phải chịu lãi suất cao với mức độ khác nhau rõ rệt. Lãi suất thỏa thuận còn tạo điều kiện cho các công ty tài chính phát triển thị trường tiềm năng, mở rộng mạng lưới để huy động vốn với mức lãi suất phù hợp, đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn của khách hàng. Khi các công ty tài chính chủ động hơn trong xác định lãi suất và quy mô huy động với thời hạn hợp lý, rủi ro thanh khoản sẽ giảm. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác, bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay tới số 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác.