1. Thế nào hành vi môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài làm việc?

Tuy là pháp luật Việt Nam đã có những quy định chặt chẽ về xuất nhập cảnh tuy nhiên vẫn tồn tại rất nhiều trường hợp cấu kết, môi giới người đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép.

Trong Công văn 1557/VKSTC-V1 năm 2021, đã đề cập đến khái niệm về hành vi tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài. Cụ thể, hành vi này được xác định là việc tổ chức, môi giới cho người khác rời khỏi lãnh thổ Việt Nam nhằm mục đích người đó trốn ra nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép. Trong thực tế, việc trốn đi nước ngoài của người này chủ yếu nhằm tránh truy nã hoặc trốn nợ tại Việt Nam, hoặc để lao động và cư trú trái phép ở nước ngoài. Người phạm tội thường thực hiện một loạt hành vi, như thỏa thuận với khách hàng về chi phí, thời gian, địa điểm đi và đến, phương tiện và các biện pháp trốn tránh.

Có nhiều người hiểu nhầm giữa hành vi tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài và hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép. Cần phải phân biệt rõ hai hành vi này. Hành vi tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh trái phép xảy ra khi một tổ chức hoặc môi giới đưa người khác qua biên giới từ Việt Nam ra nước ngoài trái phép chỉ với mục đích vụ lợi cá nhân.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiện hành đã quy định nhiều hành vi khác nhau. Trong trường hợp một người phạm tội vi phạm nhiều hành vi khác nhau, và mỗi hành vi này đã đủ điều kiện để cấu thành từng tội phạm riêng biệt, thì sẽ xử lý từng tội phạm đó một cách độc lập.

Ví dụ, có thể có tội tổ chức cho người khác ở lại Việt Nam trái phép và tội tổ chức nhập cảnh trái phép, trong trường hợp từng hành vi này đã đủ để cấu thành tội phạm độc lập.

2. Công ty môi giới cho người lao động trốn đi nước ngoài làm việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không?

2.1. Đối với cá nhân

Theo quy định tại Điều 349 của Bộ luật Hình sự 2015, tội tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép có các điều sau đây:

- Người tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoài trái phép, trừ khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 120 của Bộ luật Hình sự, sẽ bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

- Phạm tội sẽ bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm trong các trường hợp sau đây:

  • Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Đối với từ 05 người đến 10 người;
  •  Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  • Tái phạm nguy hiểm.

- Phạm tội sẽ bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm trong các trường hợp sau đây:

  • Đối với 11 người trở lên;
  • Thu lợi bất chính 500.000.000 đồng trở lên;
  • Gây chết người.

- Người phạm tội cũng có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Do đó, nếu môi giới cho người lao động trốn đi nước ngoài, có thể bị xem xét trách nhiệm về Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài.

- Khung hình phạt:

  • Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
  • Nếu có các tình tiết tăng nặng, phạt tù có thể lên đến 15 năm.

Ngoài ra, người phạm tội cũng có thể chịu thêm hình phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Lưu ý: Đối với việc làm rõ số tiền thu lợi bất chính từ hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài, Công văn 1557/VKSTC-V1 năm 2021 hướng dẫn rằng, trong trường hợp người phạm tội đã chi phí cho việc tổ chức, môi giới người khác xuất cảnh trái phép, nhập cảnh trái phép, ở lại Việt Nam trái phép hoặc trốn đi nước ngoài, việc xác định số tiền thu lợi bất chính sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể và được quy định tại các điều 348 và 349 của Bộ luật Hình sự 2015. Số tiền đã chi thực tế và hợp lý cho việc tổ chức, môi giới như chi phí làm visa, mua vé máy bay, thuê dịch vụ vận tải,... sẽ không được tính vào số tiền thu lợi bất chính.

2.2. Đối với tổ chức

Theo quy định tại Điều 75 của Bộ luật Hình sự 2015 về điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại có các điều sau đây:

- Pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi đáp ứng đủ các điều kiện sau:

  • Hành vi phạm tội được thực hiện dưới tên của pháp nhân thương mại;
  • Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
  • Hành vi phạm tội được thực hiện dưới sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
  • Vụ án chưa quá thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của Bộ luật này.

- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại không loại trừ trách nhiệm hình sự của cá nhân.

Theo quy định tại Điều 76 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 11 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, phạm nhân thương mại sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự với các tội phạm quy định tại một trong các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 200, 203, 209, 210, 211, 213, 216, 217, 225, 226, 227, 232, 234, 235, 237, 238, 239, 242, 243, 244, 245, 246, 300 và 324 của Bộ luật này.

Do đó, trong trường hợp pháp nhân thương mại tổ chức môi giới cho người lao động trốn đi nước ngoài làm việc, pháp nhân thương mại sẽ không chịu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trách nhiệm hình sự liên quan đến tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài sẽ được xem xét đối với các cá nhân làm việc trong công ty, và truy cứu trách nhiệm hình sự theo phần đối với cá nhân mà chúng tôi đã trình bày trước đó.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài

Theo quy định tại khoản 2 Điều 27 của Bộ luật Hình sự 2015, thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

- 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

- 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

- 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

- 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Và theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật Sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017, về phân loại tội phạm như sau:

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật này, tội phạm được phân thành 04 loại, trong đó tội phạm nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn, với mức cao nhất của khung hình phạt quy định đối với tội đó là từ trên 03 năm tù đến 07 năm tù.

Do đó, Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự 2015 có mức cao nhất của khung hình phạt là 5 năm, do đó được xác định là tội phạm nghiêm trọng.

Như vậy, thời hiệu truy cứu trách nhiệm đối với Tội môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài theo khoản 1 Điều 349 Bộ luật Hình sự 2015 là 10 năm, tính từ ngày tội phạm được thực hiện.

Để tìm hiểu thêm thông tin liên quan, mời quý bạn đọc tham khảo những bài viết dưới đây của Luật Minh Khuê: Thế nào là tổ chức, môi giới cho người khác trốn đi nước ngoài? 

Trên đây là toàn bộ nội dung bài viết của Luật Minh Khuê liên quan đến vấn đề: Công ty môi giới cho người lao động trốn đi nước ngoài làm việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không? Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tư vấn qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp kịp thời. Xin trân trọng cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê.