Xin chào công ty luật Minh Khuê. Hiện tại tôi đang nghiên cứ về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luât. Theo tôi được biết, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là một trong các căn cứ để quyết định hình phạt. Vậy khi áp dụng các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt cần tuân thủ nguyên tắc nào? Rất mong nhận được giải đáp của luật sư. Xin chân thành cảm ơn! (Nông Thanh - Cao Bằng)

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Hình sự của Công ty luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự, gọi: 1900 6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017

2. Các căn cứ quyết định hình phạt

Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự.”

Như vậy, theo quy định của Điều 45 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 thì các căn cứ quyết định hình phạt bao gồm:

- Các quy định của Bộ luật hình sự;

-Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội;

- Nhân thân người phạm tội;

- Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Các căn cứ trên vừa có tính độc lập tương đối, lại vừa có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, bổ sung cho nhau tạo thành một thể thống nhất, đó là cơ sở pháp lý mà Tòa án phải tuân thủ khi quyết định hình phạt.

3. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được phân thành ba nhóm khác nhau.

Thứ nhất: các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như các tình tiết liên quan đến mức độ hậu quả; các tình tiết phản ánh đặc điểm nhân thân, ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi và người phạm tội; những tình tiết ảnh hưởng đến mức độ lỗi.

Thứ hai: các tình tiết phản ánh khả năng cải tạo của người phạm tội như người phạm tội tự thú; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện, điều tra tội phạm; người phạm tội lập công chuộc tội...

Thứ ba: những tình tiết phản ánh hoàn cảnh đặc biệt của người phạm tội như người phạm tội là phụ nữ có thai; người phạm tội là người già; người phạm tội là thương binh...

Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017 đã quy định những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, làm cơ sở pháp lý cho Tòa án khi quyết định hình phạt. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được sắp xếp không theo thứ tự giảm nhẹ nhiều hay ít, mà chủ yếu dựa vào sự phân biệt các tình tiết thuộc về phương diện khách quan, chủ quan của tội phạm và các tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội.

Ngoài các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định cụ thể ở các khoản 1 Điều 51; tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự còn cho phép khi quyết định hình phạt Tòa án có thể coi những tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng lý do phải ghi vào trong bản án. Quy định này là hợp lý và có cơ sở thực tế bởi vì luật không thể dự liệu hết được những tình tiết giảm nhẹ xảy ra trong thực tiễn.

4. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cũng được phân thành ba nhóm khác nhau.

Thứ nhất: các tình tiết ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội như tình tiết phản ánh đôì tượng bị xâm hại là đốì tượng đặc biệt; tình tiết phản ánh tính chất của hành vi phạm tội; tình tiết phản ánh mức độ hậu quả; tình tiết phản ánh mức độ lỗi.

Thứ hai: các tình tiết phản ánh khả năng giáo dục, cải tạo của người phạm tội như có hành vi xảo quyệt, hung hãn nhằm trôn tránh, che giấu tội phạm...

Thứ ba: những tình tiết phản ánh đặc điểm về nhân thân người phạm tội như phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm...

Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có giá trị làm tăng mức độ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong phạm vi một khung hình phạt cụ thể đã được xác định. Vì là tình tiết được dùng làm cơ sở để xác định mức độ nguy hiểm cho xã hội cao hơn của tội phạm, nên theo quy định của Điều 52 Bộ luật hình sự thì chỉ có những tình tiết được luật quy định mới được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, bởi vì những tình tiết mà Tòa án dùng làm cơ sở để tăng mức độ trách nhiệm hình sự cho người phạm tội phải được luật quy định cụ thể, chặt chẽ, tránh việc lạm dụng để làm xấu đi tình trạng pháp lý của người phạm tội khi không có căn cứ xác đáng. Như vậy, ngoài những tình tiết được quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự, khi xét xử Tòa án không được coi bất kỳ một tình tiết nào khác là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự để áp dụng cho người phạm tội. Trong những điều kiện giống nhau, việc có những tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là một trong những cơ sở để Tòa án quyết định một hình phạt nghiêm khắc hơn.

4. Nguyên tắc lưu ý khi áp dụng những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự không được quy định trong các cấu thành tội phạm cụ thể mà được quy định tại Phần chung của Bộ luật hình sự. Điều 46 Bộ luật hình sự quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Điều 48 Bộ luật hình sự quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự, đây chính là quy định có tính chất hưóng dẫn, bắt buộc để cụ thể hóa một phần khi xem xét, cân nhắc căn cứ thứ hai và thứ ba. Bởi vì, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội cũng là một trong những cơ sỏ để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, trong số các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội.

Nghiên cứu các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự với tính chất là một căn cứ để quyết định hình phạt theo chúng tôi cần làm sáng tỏ những vấn đề sau đây:

4.1. Phân biệt tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự với tình tiết định tội và tình tiết định khung

Việc phân biệt này có ý nghĩa rất quan trọng, bởi vì, nếu có sự nhầm lẫn giữa ba loại tình tiết trên trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt sẽ dẫn đến việc xét xử sai toàn bộ vụ án.

Tình tiết định tội là tình tiết nêu lên dấu hiệu đặc trưng, điển hình của một loại tội phạm nhất định, phản ánh bản chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó, là cơ sở, ranh giới để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác. Ví dụ: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản...” là tình tiết định tội của tội cướp tài sản, quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015. Tình tiết định tội là cơ sở để định tội danh, do đó, các tình tiết này được quy định trong cấu thành tội phạm cơ bản của tội phạm đó.

Tình tiết định khung là tình tiết phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm tăng lên hoặc giảm xuống đáng kể so vối trường hợp bình thường (cấu thành tội phạm cơ bản) trong phạm vi một tội phạm cụ thể. Tình tiết định khung là cơ sở, là ranh giới để phân biệt mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong phạm vi một tội phạm cụ thể. Do đó, tình tiết định khung là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tăng nặng và cấu thành tội phạm giảm nhẹ của tội phạm đó.

Có hai loại tình tiết định khung là tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết định khung giảm nhẹ. Tình tiết định khung tăng nặng là tình tiết phản ánh mức độ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm táng lên so với trường hợp bình thường (cấu thành tội phạm cơ bản) trong phạm vi một tội phạm cụ thể, vì vậy tình tiết định khung tăng nặng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm tăng nặng của tội phạm đó. Ví dụ: tình tiết “có tổ chức” là tình tiết định khung tăng nặng của tội cướp tài sản được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017. Tình tiết định khung giảm nhẹ là tình tiết phản ánh mức độ tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm giảm xuốhg so với trường hợp bình thường (cấu thành tội phạm cơ bản) trong phạm vi một tội phạm cụ thể, vì vậy tình tiết định khung giảm nhẹ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm giảm nhẹ của tội phạm đó. Ví dụ: “người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đôì vối người đó hoặc đôì vối ngưòi thân thích của người đó...” là tình tiết định khung giảm nhẹ của tội giết ngưòi được quy định tại khoản 1 Điều 125 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017.

Tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự là tình tiết phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên hoặc giảm xuống trong phạm vi một khung hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự không được quy định trong các cấu thành tội phạm cụ thể mà quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự, Điều 51 quy định các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Điều 52 quy định các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Như vậy tình tiết định tội, tình tiết định khung, tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ý nghĩa hoàn toàn khác nhau trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt. Tình tiết định tội là cơ sở để định tội danh; tình tiết định khung là cơ sở để xác định khung hình phạt cụ thể; tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ là một trong những căn cứ để quyết định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi một khung hình phạt đã được xác định của một tội phạm. Tình tiết định tội là ranh giới để phân biệt tội phạm này với tội phạm khác, tình tiết định khung là ranh giới để phân biệt mức độ khác nhau của tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm trong phạm vi một tội cụ thể, tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự là ranh giới để phân biệt mức độ nguy hiểm khác nhau của tội phạm trong phạm vi một khung hình phạt đã được xác định của một tội phạm cụ thể.

4.2. Những tình tiết là tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt không được coi là tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ

Tinh thần của quy định này xuất phát từ nguyên tắc: một tình tiết không được sử dụng nhiều lần để phân hóa trách nhiệm hình sự của người phạm tội. Ví dụ, phạm tội có tổ chức là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội hiếp dâm (điểm a khoản 2 Điều 141 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017). Khi quyết định hình phạt không được coi tình tiết này là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017; hoặc tình tiết “Giết người trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” là tình tiết định tội của tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 126 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi năm 2017), khi quyết định hình phạt không được coi tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ của tội đó theo điểm c khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nữa.

Về vấn đề này, các quy định của pháp luật đã nêu rất rõ ràng. Đó là: đối với các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, khoản 2 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 đã quy định “Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Tương tự đối với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khoản 3 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi năm 2017 quy định “Khi quyết định hình phạt, Tòa án có thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ lý do giảm nhẹ trong bản án”. Các quy định trên là hoàn toàn hợp lý và có cơ sở khoa học, vì khi nhà làm luật đã coi một tình tiết nào đó là tình tiết định tội hoặc là tình tiết định khung hình phạt, thì đã xác định một hình phạt tương xứng vởi tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tình tiết đó. Do vậy, khi quyết định hình phạt mà lại vận dụng những tình tiết trên lại một lần nữa với tính chất là những tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự để giảm hoặc tăng mức hình phạt cụ thể cho người phạm tội là không hợp lý, không công bằng

4.3. Xác định mức độ ảnh hưởng cụ thể của từng tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự có giá trị pháp lý khác nhau trong từng tội phạm cụ thể. Điều này có nghĩa là một tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ nào đó đối với tội A có giá trị làm tăng hoặc giảm rất nhiều mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhưng đối vối tội B thì giá trị làm tăng hoặc giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm lại hạn chế hơn. Do đó, luật không quy định cụ thể từng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có ảnh hưởng đến mức độ nào trong việc quyết định hình phạt đốì vối từng tội phạm cụ thể. Để bảo đảm sự linh hoạt, mềm dẻo, sát với từng tội phạm và con người cụ thể khi cá thể hoá hình phạt, pháp luật đã giành cho Tòa án quyền đánh giá, cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi quyết định hình phạt. Tuy nhiên, quyền trên của Tòa án phải nằm trong những nguyên tắc và quy định chung của pháp luật.

4.4. Đối với những vụ án vừa có cả tình tiết tăng nặng, vừa có cả tình tiết giảm nhẹ

Thông thường trong một vụ án có nhiều tình tiết, có thể chỉ có tình tiết tăng nặng, hoặc có thể chỉ có tình tiết giảm nhẹ, nhưng cũng có vụ án vừa có cả tình tiết tăng nặng, vừa có cả tình tiết giảm nhẹ. Trong trường hợp như vậy, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ không những cần được đánh giá riêng lẻ mà còn cần được đánh giá tổng thể, toàn diện trong mối quan hệ biện chứng và ảnh hưởng qua lại với nhau gắn với hoàn cảnh, điêu kiện, không gian, thời gian xảy ra vụ án.

Trên cơ sở đó, Tòa án đánh giá, xác định giá trị pháp lý của hai loại tình tiết đối lập nhau trong việc làm tăng hay giảm mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đó trong phạm vi một khung hình phạt cụ thể đã được xác định. Từ đó đưa ra quyết định hình phạt của vụ án là cần tăng nặng, cần giảm nhẹ, hay chỉ cần xử ở mức trung bình của khung hình phạt. Nếu tình tiết tăng nặng có mức độ ảnh hưởng lớn hơn tình tiết giảm nhẹ thì là trường hợp cần tăng nặng. Hoặc ngược lại, nếu tình tiết giảm nhẹ có ảnh hưởng lớn hơn tình tiết tăng nặng thì là trường hợp cần giảm nhẹ. Nếu cả hai loại tình tiết đều có mức độ ảnh hưởng tương đương nhau thì là trường hợp bình thường. Điều quan trọng trong trường hợp này là Tòa án phải đưa ra được một nhận định là cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt ở mức tăng nặng, ở mức giảm nhẹ hay ở mức trung bình của khung hình phạt, sao cho hình phạt đã tuyên tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, trong trường hợp này khi quyết định hình phạt, Tòa án phải vận dụng các nguyên tắc quyết định hình phạt, trong đó đáng chú ý là nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa để vận dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng trách nhiệm hình sự, đây chính là quy định có tính chất hướng dẫn, bắt buộc để cụ thể hóa một phần khi xem xét, cân nhắc căn cứ thứ hai và thứ ba. Bởi vì, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội cũng là một trong những cơ sở để đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, trong số các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về nội dung "Nguyên tắc khi áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập