1. Đã nghỉ hưu có được nhận thừa kế đất nông nghiệp hay không?

Điều 3 của Luật Đất đai năm 2013 (hiện đang có hiệu lực) tại Khoản 29 Điều 3 quy định rằng, người được nhận đất từ Nhà nước, thuê đất, hoặc có quyền sử dụng đất chung phải là thành viên của hộ gia đình có quan hệ hôn nhân, huyết thống, hoặc nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung tại thời điểm Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, hoặc nhận chuyển quyền sử dụng đất.

Khoản 1 của Điều 179 Luật Đất đai năm 2013 quy định rằng, cá nhân sử dụng đất có quyền thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu có thành viên trong hộ gia đình chết, quyền sử dụng đất của thành viên đó sẽ được thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật.

Theo hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Khoản 2 và Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của Bộ Tài nguyên Môi trường, người được coi là cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp là người đang sử dụng đất nông nghiệp theo các hình thức như được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận, và đồng thời không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; hoặc là đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc và được hưởng trợ cấp xã hội.

Đối với hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp, định nghĩa là hộ gia đình đang sử dụng đất nông nghiệp theo các hình thức như được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng đất; nhận chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất; sử dụng đất nông nghiệp mà chưa được Nhà nước công nhận, và có ít nhất một thành viên trong hộ gia đình không thuộc đối tượng được hưởng lương thường xuyên; hoặc là đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc và được hưởng trợ cấp xã hội.

Trong tình huống giả định, nếu chủ hộ gia đình hiện đang hưởng chế độ hưu trí và các thành viên khác của gia đình đang trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp trên diện tích đất nông nghiệp được thừa kế từ người trong gia đình, theo hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Điều 3 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, gia đình sẽ được thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Pháp luật không có quy định nào cấm người đang hưởng lương hưu là thành viên trong hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp mà không phải là chủ hộ.

Tuy nhiên, đối với việc đứng tên với tư cách cá nhân, theo hướng dẫn tại Điểm a, Điểm b Điều 2 của Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT, chủ hộ là người được hưởng lương hưu trong trường hợp này sẽ không được phép đứng tên với tư cách cá nhân sử dụng đất nông nghiệp.

 

2. Nghịch lý không sản xuất nông nghiệp, không được nhận thừa kế đất

Thực tế, việc phải có xác nhận "nông dân" mới được thừa kế đất nông nghiệp đã tồn tại từ lâu, nhưng không phải ai cũng biết hoặc quá trình triển khai tại các địa phương chưa rõ ràng. Chỉ khi có làn sóng di cư người dân trở về quê sau thời kỳ khó khăn do đại dịch Covid-19, khiến nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa và hàng triệu công nhân quay về quê sống, liên quan đến đất nông nghiệp của cha mẹ, anh chị em, thì vấn đề này mới trở nên nổi lên ở nhiều địa phương.

Cụ thể, Điều 191 của Luật Đất đai 2013 quy định rằng những trường hợp không được nhận chuyển nhượng, nhận, tặng, cho quyền sử dụng đất là khi "hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận, tặng quyền sử dụng đất trồng lúa".

Tại Khoản 2, Khoản 3 của Điều 3 Thông tư 33/2017/TT-BTC, quy định chi tiết về cơ sở xác định cá nhân, hộ gia đình trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Theo đó, những cá nhân được hưởng lương thường xuyên, đối tượng đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc và đang hưởng trợ cấp xã hội sẽ không được nhận chuyển nhượng đất trồng lúa.

Mặc dù theo quy định, luật không yêu cầu người nhận đất nông nghiệp phải có xác nhận "nông dân", nhưng trong Luật Đất đai 2013 chỉ cụ thể hạn chế quyền nhận chuyển nhượng, tặng quyền sử dụng đất trồng lúa đối với hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, điều này chỉ áp dụng đối với đất trồng lúa, không áp dụng cho các loại đất nông nghiệp khác. Trong thực tế, điều này đã tạo ra những khó khăn và bất cập, khiến người dân, kể cả những người có nghề nghiệp không phải là nông dân, phải đối mặt với việc xin xác nhận "nông dân" khi chuyển nhượng hoặc tặng đất nông nghiệp, bao gồm cả đất trồng lúa và các loại đất khác.

Yêu cầu xác nhận "nông dân" trong luật pháp của Việt Nam có nguồn gốc từ thực tế rằng Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, nơi mà đảm bảo an ninh lương thực đóng vai trò quan trọng. Luật pháp luôn ưu tiên các chính sách bảo vệ đất trồng lúa để đảm bảo nguồn cung lương thực. Chẳng hạn, việc chuyển đổi đất nông nghiệp sang hoạt động nuôi trồng thủy sản hiện nay cũng phải đảm bảo khả năng hoàn trả lại mặt đất cho việc trồng lúa sau khi ngừng nuôi trồng thủy sản.

Trước đây, Nhà nước ủy quyền sử dụng đất cho hộ gia đình và hợp tác xã canh tác. Do đó, khi hộ gia đình hoặc cá nhân muốn chuyển nhượng hoặc tặng đất trồng lúa, họ phải chuyển trả đất cho người đúng đối tượng và có nhu cầu sử dụng đất để bảo đảm an ninh lương thực quốc gia.

Ví dụ, một nông dân có hai con học thành bác sĩ và kỹ sư. Khi nông dân này qua đời, nếu cả hai con thừa kế đất nông nghiệp của cha, khả năng họ không thể tiếp tục trồng lúa và làm nông nghiệp. Thay vào đó, họ có thể để đất hoang hoặc cho thuê, điều này không chỉ gây lãng phí đất nông nghiệp mà còn đặt ra thách thức đối với an ninh lương thực quốc gia.

 

3. Kiến nghị sửa đổi luật phù hợp thực tiễn

Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, nhiều chính sách của Nhà nước và các địa phương đang khuyến khích sự chuyển đổi cơ cấu ngành nghề, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp để tăng cường phần trăm đóng góp từ ngành công nghiệp và dịch vụ. Do đó, mô hình bố mẹ làm nông dân tại quê nhưng con cái làm các nghề phi nông nghiệp như công nhân, bác sĩ, và nhiều nghề khác đã trở nên phổ biến.

Tuy nhiên, với điều kiện kinh tế và môi trường làm việc, nhiều gia đình, mặc dù bố mẹ làm nông nhưng con cái không muốn theo đuổi nông nghiệp. Tuy nhiên, vấn đề là đất của bố mẹ vẫn là di sản để lại. Những người làm nghề phi nông nghiệp, mặc dù có quyền thừa kế và sang tên đổi chủ, nhưng để đạt được phần đất này, họ phải chứng minh mình là "nông dân," điều khó khăn vì họ không tham gia trực tiếp sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp của bố mẹ. Những trường hợp có giấy xác nhận "nông dân" thì có vẻ là kết quả của việc gian lận thông tin.

Do đó, quy định phải có giấy xác nhận "nông dân" không phản ánh thực tế hiện nay và tạo ra những khó khăn không cần thiết cho người dân. Quy định này tạo ra sự chia rẽ giữa ngành nông nghiệp và phi nông nghiệp, tách bạch giữa con nhà nông dân "ly hương" trở thành công nhân và con nông dân "bám trụ" trên đồng ruộng vẫn được công nhận là nông dân.

Mặt khác, trong bối cảnh hàng loạt người công nhân phải trở về quê tránh dịch Covid và doanh nghiệp ngưng hoạt động, hàng triệu công nhân không có đất để phát triển kinh tế mà phải sống "tầm gửi" vào đất nông nghiệp của gia đình, gây ra tình trạng không hợp lý.

Do đó, việc loại bỏ quy định này trong dự thảo Luật Đất đai sửa đổi là cần thiết. Tuy nhiên, có ý kiến lo ngại rằng, nếu quy định này được sửa đổi, liệu luật mới có mang đến những quy định mới khó khăn và trái với thực tế cho người dân không? Điều quan trọng là cần có sự phổ biến và hướng dẫn chính sách pháp luật phù hợp, để tránh tình trạng như quy định xác nhận "nông dân" đã tồn tại nhiều năm nhưng chỉ mới nổi lên gần đây, thể hiện sự ngang trái nhưng vẫn tồn tại trong một khoảng thời gian dài.

Bài viết liên quan: Quy định về thừa kế đất đai theo luật dân sự hoặc theo di chúc?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng thông qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!