Trả lời:

1. Đặc điểm của trọng tài quốc tế

Mặc dù còn có những nhìn nhận khác nhau về trọng tài theo quan điểm riêng, nhửng rõ ràng, có thể chỉ ra một số đặc điểm cơ bản của trọng tài như sau:

Thứ nhất, quá trình trọng tài diễn ra trên cơ sở thoả thuận trọng tài được thiết lập bởi các bên tranh chấp.

Thứ hai, thủ tục trọng tài được xác định bởi các bên và thường là một thủ tục xét xử kýn được điều khiển bởi hội đồng trọng tài gồm một hoặc một số lẻ các trọng tài viên.

Thứ ba, phán quyết của trọng tài về vụ tranh chấp là chung thẩm, buộc các bên phải thực hiện.

Trọng tài quốc tế luôn chứa đựng những đặc điểm chung của một trọng tài, nhưng một trọng tài chỉ được coi là trọng tài quốc tế nếu nó chứa đựng đầy đủ tính “quốc tế”, về mặt lý luận cũng như thực tiễn, việc xác định một trọng tài là quốc tế hay nội địa thường rất có ý nghĩa bởi vì hầu hết các nước đều xây dựng các quy chế pháp lý khác nhau cho mỗi loại trọng tài này. Các trọng tài nội địa (trọng tài giải quyết các tranh chấp thuần tủy nội địa, không có yếu tố nước ngoài) thường bắt buộc phải tuân theo những quy định về trọng tài của quốc gia đó như: tố tụng trọng tài, luật điều chỉnh nội dung tranh chấp, ngôn ngữ trọng tài.

Ví dụ, khoản 1 Điều 14 Luật trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam quy định:

“Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật Việt Nam để giải quyết tranh chấp".

hay, khoản 1 Điều 10 Luật này quy định:

“Đối với tranh chấp không có yếu tố nước ngoài, ngôn ngữ sử dụng trong tố tụng trọng tài là tiếng Việt, trừ trường hợp tranh chấp mà ít nhất một bên là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trường hợp bên tranh chấp không sử dụng được tiếng Việt thì được chọn người phiên dịch ra tiếng Việt”.

Nhưng, với trọng tài quốc tế thì điều này là không nhất thiết. Có nghĩa là, trọng tài quốc tế có thể tiến hành phiên xử và đưa ra phán quyết ở trong nước hay nước ngoài trên cơ sở một trình tự tố tụng, ngôn ngữ và luật áp dụng cho nội dung tranh chấp do chính các bên tranh chấp thoả thuận ra với nhau.

>> Xem thêm:  Điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) là gì ? Thời điểm chuyển dịch rủi ro trong Incoterms

Luật mẫu của UNCITRAL 1985 về trọng tài thương mại quốc tế là một ví dụ điển hình. Điều 1(3) Luật này quy định:

“Trọng tài là quốc tế nếu:

(a) Các bên tham gia thoả thuận trọng tài, tại thời điểm ký kết thoả thuận trọng tài đó, có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau; hoặc

(b) Một trong những địa điểm sau đây được đặt ở ngoài quốc gia nơi các bên có trụ sở kinh doanh:

+ Nơi tiến hành trọng tài nếu được xác định trong hoặc theo thoả thuận trọng tài;

+ Nơi mà phần chủ yếu của các nghĩa vụ trong quan hệ thương mại được thực hiện hoặc nơi mà nội dung tranh chấp có quan hệ mật thiết nhất;

(c) Các bên đã thoả thuận rõ rằng vấn đề chủ yếu của thoả thuận trọng tài liên quan đến nhiều nước”.

Như vậy, theo quy định của Điều l(3)(a) thì tính quốc tế của trọng tài có liên quan tới yếu tố chủ thể, trong khi đó Điều 1 (3)(b)(ii) có liên quan tới bản chất quốc tế của tranh chấp.

Pháp luật trọng tài Việt Nam hiện hành không có quy định giải thích rõ thế nào là trọng tài quốc tế, tuy nhiên, trong Luật trọng tài thương mại 2010 có những quy định áp dụng riêng đối với trọng tài giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài như quy định về ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng giải quyết tranh chấp (Xem Điều 10 và 14 Luật trọng tài thương mại 2010).

Tóm lại, trọng tài quốc tế là một phương thức giải quyết tranh chấp mà sự bắt đầu của nó dựa hên sự thoả thuận của các bên tham gia tranh chấp nhằm giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài (hay yếu tố quốc tế) bởi một hội đồng trọng tài gồm một hoặc một số lẻ các trọng tài viên, trên cơ sở trình tự thủ tục do các bên tranh chấp thoả thuận chọn ra. Tính quốc tế của trọng tài được quyết định dựa

2. Thẩm quyền của trọng tài quốc tế

Thẩm quyền của trọng tài quốc tế bắt nguồn từ thoả thuận của các bên, không có thoả thuận trọng tài sẽ không có trọng tài. Đó là nguyên tắc “hòn đá tảng” của trọng tài nói chung, trọng tài quốc tế nói riêng. Tuy nhiên, cũng có ngoại lệ của nguyên tắc này. Một số điều ước quốc tế quy định bắt buộc tranh chấp giữa các bên có liên quan đều phải giải quyết bằng trọng tài dù có thoả thuận hay không.

Ví dụ, khoản 1 Điều 8 Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư giữa Việt Nam với Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland ký ngày 01/8/2002 quy định:

‘‘Các tranh chấp giữa công dân hoặc công ty thuộc một bên ký kết và bên ký kết kia về nghĩa vụ của bên ký kết kìa theo Hiệp định này liên quan đến khoản đầu tư của công dân hoặc có thấm quyền thuộc bên thứ nhất đã không được giải quyết thông qua thương lượng hoà giải, thì sau ba tháng kể từ khi nhận được thông bảo bằng văn bản về việc khiếu nại, phải được trình lên cơ quan trọng tài quốc tế nếu một trong hai bên trong tranh chấp mong muốn như vậy"

Và khoản 3 Điều 8 quy định thêm:

“Nếu sau một thời gian hoặc sau ba tháng kể từ khi có thông bảo bằng vãn bản về việc khiếu nại mà không đạt được một thoả thuận về một trong các thủ tục lựa chọn nêu trên, các bên trong tranh chấp buộc phải đưa tranh chấp đó ra trọng tài giải quyết theo các Quy tắc trọng tài của Uỷ ban Liên hợp quốc về luật thương mại quốc tế có hiệu lực tại thời điểm đô. Các bên trong tranh chấp có thể thoả thuận bằng văn bản việc sửa đoi các Quy tắc này”

hoặc, Điều 11.2 Hiệp định Việt Nam và Trung Quốc về quá cảnh hàng hoá, ký ngày 09/4/1994 nêu rõ:

>> Xem thêm:  Khái niệm, ý nghĩa việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài

“Những tranh chấp giữa các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các hợp đồng sẽ do các doanh nghiệp giải quyết thông qua thương lượng, nếu thương lượng không đạt kết quả, sẽ do tổ chức trọng tài thương mại quốc tế của nước cho quả cảnh giải quyết”.

Nguyên tắc này ngày càng được công nhận rộng rãi trong cả luật quốc gia lẫn các điều ước quốc tế. Khi các bên thiết lập một thoả thuận trọng tài điều đó có nghĩa là họ đã trao cho một hội đồng trọng tài nhất định thẩm quyền giải quyết tranh chấp và đồng nghĩa rằng toà án quốc gia không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đó trừ khi thoả thuận trọng tài vô hiệu hoặc bị hủy bỏ bởi chính các bên hoặc không thể thực hiện được (Điều II Công ước New York 1958 quy định:

"... Toà án của một quốc gia thành viên, khi nhận được một đơn kiện về một vấn đề mà đối với vấn đề đó các bên đã có thoả thuận theo nội dung của điều này, sẽ theo yêu cầu của một bên, đưa các bên tớì trọng tài, trừ khi toà án thấy rằng thoả thuận nói trên không có hiệu lực, không hiệu quả hoặc không thể thực hiện được).

Thẩm quyền của trọng tài còn bị ảnh hưởng bởi phạm vi các tranh chấp mà nó được phép giải quyết (hay còn gọi là khả năng trọng tài). Trọng tài có thể bị giới hạn phạm vi xét xử trong những quan hệ hợp đồng, cũng có thể không bị giới hạn dù có hợp đồng hay không. Chẳng hạn các quy tắc trọng tài UNCITRAL đã giới hạn thẩm quyền của trọng tài trong phạm vi các quan hệ hợp đồng, việc sử dụng bộ quy tắc này đối với những tranh chấp ngoài hợp đồng là không được phép. Trong khi đó các quy tắc trọng tài LCIA (Toà án trọng tài quốc tế London) và ICC (Phòng Thương mại quốc tế) cho phép trọng tài quốc tế giải quyết các tranh chấp cho dù có hợp đồng hay không.

“Khả năng trọng tài” còn liên quan tới việc xác định thẩm quyền của trọng tài đối với các tranh chấp phát sinh từ nhũng lĩnh vực nào? Thực tế là, ngày nay, hầu hết pháp luật các nước đều mở rộng thẩm quyền của trọng tài, theo đó cho phép trọng tài có khả năng giải quyết không chỉ tranh chấp thương mại mà còn các tranh chấp lao động, dân sự khác. Điều 1 Luật trọng tài Brazil 1996 quy định:

"Mọi người có khả năng ký kết hợp đồng đều có thể đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh chấp liên quan tới các quyền về tài sản mà họ có quyền quyết định".

Các quy định tương tự cũng được tìm thấy tại Điều 2 Luật trọng tài Trung Quốc 1994, khoản 1 Điều 1030 Luật trọng tài Đức 1998, Điều 1 Luật trọng tài Thụy Điển 1999 .... Tuy nhiên, sự mở rộng thẩm quyền trọng tài cũng có giới hạn của nó, khi nhà nước cần can thiệp trực tiếp vào các tranh chấp “không chỉ liên quan tới quyền lợi cá nhân đương sự mà còn liên quan tới quyền lợi của bên thứ ba hoặc lợi ích công cộng”.[1] Chẳng hạn, các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hôn nhân, thừa kế, một số tranh chấp về sở hữu trí tuệ, cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh, phá sản, tranh chấp từ quan hệ hành chính ... phải do toà án hay cơ quan nhà nước có

Tóm lại, có thể khẳng định rằng, trọng tài quốc tế chỉ có thẩm quyền hợp pháp để giải quyết tranh chấp nếu có một thoả thuận trọng tài hợp pháp được làm bởi các bên tranh chấp (trừ trường hợp ngoại lệ). Thoả thuận trọng tài phải là biểu hiện của sự thống nhất ý chí giữa các bên tranh chấp chứ không phải là sự biểu hiện của ý chí đơn phương.

3. Các hình thức trọng tài quốc tế

Trên cơ sở bản chất của tranh chấp và ý chí của các bên tranh chấp, vụ việc có thể sẽ được giải quyết tại hội đồng trọng tài do các bên tự thành lập hoặc hội đồng trọng tài của một tổ chức trọng tài thường trực. Hiện nay, trọng tài được phân thành hai loại (hai hình thức) đó là: Trọng tài Ad-hocTrọng tài thường trực. Mỗi hình thức trọng tài đều có những ưu điểm và nhược điểm của nó. Các bên tranh chấp tự mình cân nhắc, quyết định về hình thức trọng tài giải quyết tranh chấp và cùng nhau thống nhất một hình thức nhất định. Hình thức trọng tài giải quyết tranh chấp cần được thể hiện cụ thể trong thoả thuận trọng tài bởi vì một thoả thuận không rõ ràng có thể sẽ bị vô hiệu.

3.1 Trọng tài thường trực

>> Xem thêm:  Trọng tài quốc tế là gì ? Nội dung bản quy tắc về trọng tài quốc tế ?

Trọng tài thường trực (còn gọi là trọng tài thiết chế) là một hình thức trọng tài được quản lý bởi một tổ chức trọng tài nhất định và tuân theo những quy tắc trọng tài của tổ chức trọng tài đó. Hiện nay có nhiều tổ chức trọng tài thường trực có uy tín và nổi tiếng trên thế giới như: Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA), Toà án trọng tài quốc tế London (LCIA), Trung tâm quốc tế về giải quyết tranh chấp đầu tư (ICSID), Uỷ ban trọng tài thương mại liên Hoa Kỳ, hoặc các viện trọng tài khu vực hết sức nổi tiếng tại Zurich, Stokholm và Vienna. Khi quyết định giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thường trực.

Các thủ tục hành chính đôi khi tiêu tốn một khoảng thời gian đáng kể và điều này là không phù hợp với những vụ việc yêu cầu xét xử nhanh.

3.2 Trọng tài Ad-hoc

Trọng tài Ad-hoc (còn gọi là trọng tài vụ việc) là một hình thức trọng tài được quản lý theo những quy tắc trọng tài do chính các bên tham gia trọng tài xây dựng nên.

Đối với hình thức trọng tài này, các bên được tự do thoả thuận về các quy tắc tố tụng mà không buộc phải tuân theo bất kì một bộ quy tắc tố tụng trọng tài nào. Các bên có quyền thoả thuận về cách thức bổ nhiệm trọng tài viên, địa điểm trọng tài, luật điều chỉnh quá trình trọng tài, ngôn ngữ trọng tài ....

Trọng tài Ad-hoc cũng có những ưu điểm và nhược điểm riêng biệt của nó mà các bên tham gia giao dịch cần xem xét kĩ trước khi quyết định có lựa chọn nó hay không.

3.3 Ưu điểm của trọng tài Ad-hoc

Một frong những ưu điểm nổi bật của hình thức trọng tài này là đáp ứng được ước vọng của các bên và thực tế của một tranh chấp cụ thể. Trên cơ sở thực tế của tranh chấp như: khối lượng tài liệu cần xử lý, số lượng nhân chứng sẽ được mời, khả năng tài chính của mỗi bên ... mà các bên sẽ thiết lập các quy tắc trọng tài phù hợp.

Một ưu điểm nữa cần nhắc tới đó là khả năng tiết kiệm tiền bạc và thời gian của các bên bằng cách thay đổi các thủ tục tố tụng (thường là rút ngắn các thủ tục tố tụng), không phải thanh toán các chi phí cho dịch vụ hành chính.

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ của cơ quan tư pháp, tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại ?

- Nhược điểm của trọng tài Ad-hoc

Nhược điểm chính của hình thức trọng tài này bắt nguồn từ chính một sự trì hoàn kéo dài nào trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại đều sẽ ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của họ. Trong suốt thời gian dài trong quá khứ cũng như hiện nay trọng tài được coi như một phương thức giải quyết tranh chấp có tốc độ. Quá trình trọng tài có thể diễn ra rất nhanh trong vòng vài tuần hay vài tháng nếu các bên muốn như vậy. Ngược lại, nếu so với toà án, vụ việc thường kéo dài bởi vì hệ thống toà án được tổ chức theo các cấp xét xử và thủ tục tư pháp phức tạp.

- Tính trung lập

Mặc dù trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thường được khuyến khích sử dụng, song việc lựa chọn toà án có thể vẫn có giá trị tùy theo từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các bên tham gia tranh chấp đến từ các nước khác nhau và họ miễn cưỡng phải đưa vụ việc ra trước một toà án quốc gia bởi sự lo sợ có cơ sở về một định kiến hoặc cảm tình dân tộc của các quan toà. Các bên thường cảm thấy thiếu tự tin khi phải đối mặt với những thủ tục tư pháp nghiêm khắc, cứng nhắc và các thẩm phán - những người có thể sẽ có những định kiến khi đưa ra phán quyết. Và như thế, sẽ chỉ làm lợi cho một bên là những người có cùng quốc tịch với thẩm phán. Trong bối cảnh đó, trọng tài có thể làm cho các bên (những người khác nhau về quốc tịch) tránh được việc phải giải quyết tranh chấp tại toà án bằng một thoả thuận họng tài. Và bằng cách đó tránh được những định kiến hay sự thiên vị của một thẩm phán. Phương pháp trọng tài sẽ giúp cho các bên tranh chấp tự do và bình đẳng để lựa chọn địa điểm xét xử trọng tài (tại một nước trung lập chẳng hạn), ngôn ngữ sử dụng trong quá trình trọng tài, các quy tắc tố tụng, quốc tịch của các trọng tài viên và người đại diện, về điếm này, rõ ràng trọng tài chiếm ưu thế hơn so với toà án.

Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

>> Xem thêm:  Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) là gì ? Quy định về phán quyết, điều lệ trung tâm trọng tài ?