1. Khái quát chung

Tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp 2013 có quy định:
Điều 103
...
5. Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm.
Trong tố tụng hình sự, việc xác định sự thật khách quan của vụ án được trải qua các giai đoạn khác nhau, ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau, cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng sẽ thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định; mỗi giai đoạn tố tụng đều có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
Theo đó, để tiến hành được việc tranh tụng và tranh tụng có hiệu quả, các bên cần phải có thời gian và điều kiện cần thiết để thu thập các chứng cứ, tài liệu và các tình tiết của vụ án trước khi bước vào cuộc tranh tụng tại phiên tòa. Trong các vụ án hình sự, các cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trên cơ sở chức năng nhiệm vụ được giao thực hiện chức năng chứng minh tội phạm, vì vậy họ thường chỉ thu thập những chứng cứ, bằng chứng mang tính chất buộc tội, việc thu thập chứng cứ gỡ tội thường ít chú trọng, trong khi đó bị cáo và người bào chữa thì hạn chế trong việc thu thập các chứng cứ gỡ tội. Thế cho nên, pháp luật tố tụng hình sự cần có những quy định bảo đảm các bên tham gia tố tụng có thể chủ động sử dụng các phương tiện được pháp luật cho phép để thu thập và xuất trình chứng cứ nhằm lập luận cho quan điểm của mình. Theo quy định của pháp luật, các bên tham gia vào hoạt động tố tụng có nghĩa vụ pháp lý như nhau, trong quá trình thu thập, đánh giá kiểm tra chứng cứ và được đánh giá trong trường hợp cụ thể. Việc quyết định bản án, xác định sự thật của vụ án phải được căn cứ trên cơ các kết quả, tranh tụng công khai tại phiên tòa giữa các bên.
Bảo đảm tranh tụng nhằm bảo vệ quyền hạn, trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong quá trình tố tụng được thực hiện đầy đủ các biện pháp, các phương tiện được pháp luật cho phép để thu thập và xuất trình chứng cứ chứng minh cho quan điểm của mình; tranh tụng mở ra cơ hội và tạo điều kiện ngang nhau cho các bên trình bày quan điểm, lý lẽ, cung cấp chứng cứ và phần tranh luận của mình tại phiên tòa. Nhiệm vụ của tố tụng hình sự phải thực hiện nhiệm vụ, xác định sự thật vụ án, đảm bảo công bằng, để công lý được thực.
Từ những phân tích có thể đưa ra khái niệm bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự là đảm bảo các điều kiện cần và đủ về chủ thể, các quy định pháp luật, cơ chế thực hiện nhằm đảm bảo để các chủ tham gia tố tụng được đưa ra quan điểm, chứng cứ, luận điểm để tranh luận nhằm sáng tỏ sự thật của vụ án, làm cho kết quả tranh tụng đạt hiệu quả cao; là căn cứ để tòa án đưa ra phán quyết có tính thuyết phục, đảm bảo pháp chế, đảm bảo công lý được thực hiện đún với các quy định của pháp luật.

2. Đặc điểm đảm bảo tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Tranh tụng là quá trình đi tìm sự thật khách quan của vụ án, đây là nhiệm vụ mà hoạt động tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng hướng tới. Trong quá trình thực hiện tốt các phương thức tranh tụng với nhiệm vụ xác định sự thật khách quan vụ án và cũng là công cụ hữu hiệu bảo đảm quyền con người, quyền công dân, tranh bỏ lọt tội phạm và làm oan người vô tội. Có thể hiểu: “Tranh tụng là việc các bên trong tham gia tố tụng được đưa ra các quan điểm, ý kiến, yêu cầu của mình của mình và tranh luận lại để bác bỏ một phần hay toàn bộ quan điểm của phía bên kia”. Với ý nghĩa là một nguyên tắc của luật tố tụng hình sự, nguyên tắc tranh tụng là những tư tưởng chỉ đạo, định hướng cho các chủ thể trong việc thực hiện quá trình tranh luận bình đẳng dựa trên chứng cứ.
Quá trình tranh tụng được tiến hành thông qua hoạt động của các chủ thể của bên buộc tội, bên bào chữa và Hội đồng xét xử với ba chức năng tương ứng, xem xét việc buộc tội, bào chữa và Hội đồng xét xử chỉ có thể ra Bản án, quyết định sau khi đã căn cứ vào kết quả kiểm tra, đánh giá chứng cứ và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Từ đó, có thể khẳng định rằng tranh tụng tại phiên tòa là giai đoạn mà ở đó có sự hiện diện đầy đủ các bên buộc tội, bào chữa và dưới sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa thể hiện đầy đủ nhất bản chất tranh tụng. Do vậy, đặc điểm bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự thể hiện ở những nội dung sau đây:
Thứ nhất, có thể thấy rằng Tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụng bắt buộc phải tuân theo các qui định của Bộ luật TTHS. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử, có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện, thực thi các qui định của pháp luật theo qui định của BLTTHS để các bên thực hiện tranh tụng.
Thứ hai, chủ thể của tranh tụng gồm có Kiểm sát viên (chủ thể buộc tội) và người tham gia tố tụng khác như Luật sư, bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người bị hại… (cũng có thể là chủ thể buộc tội hoặc gỡ tội). Các chủ thể thực hiện chức năng tố tụng được phân định rõ ràng, tuy xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì họ bình đẳng với nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giải quyết vụ án. Tại phiên tòa, Tòa án là cơ quan xét xử điều khiển phiên tòa, Kiểm sát viên có trách nhiệm tranh tụng với người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Người bào chữa, bị cáo, bị hại, được bình đẳng với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ và tranh luận đối đáp tại phiên tòa. Pháp luật quy định rất rõ Kiểm sát viên, người bị buộc tội, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
Thứ ba, hoạt động tranh tụng tại phiên toà thực hiện dưới sự điều khiển của chủ toạ phiên tòa. Để làm tốt vấn đề này, phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng điều hành phần tranh tụng của Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử. Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranh tụng để trả lời những ý kiến của phía bên kia đặt ra. Chủ tọa phiên tòa cũng có quyền cắt bỏ ý kiến của các bên tranh tụng nếu ý kiến đó trùng lặp hoặc không liên quan đến vụ án. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện để các bên tranh tụng bình đằng, dân chủ và không được hạn chế thời gian tranh tụng.
Thứ tư, để hoạt động tố tụng đạt hiệu quả, HĐXX có trách nhiệm bảo đảm điều kiện cần thiết cho tranh tụng. Đó là bảo đảm sự có mặt của những người tham gia tố tụng, bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, bảo đảm các tài liệu chứng cứ mới đều được xem xét tại phiên tòa.
Phiên tòa hình sự được đánh giá chất lượng tranh tụng cần có các tiêu chí đánh giá sau đây:Các bên tham gia tố tụng phải thực hiện đúng nhiệm vụ quyền hạn của mình, thực hiện nghiêm các quy định pháp luật, đảm bảo được thực hiện trên thực tế một cách, công bằng, dân chủ. Các bên tham gia tranh tụng phải đảm bảo thực hiện có trách nhiệm nhiệm vụ của mình, lập luận có căn cứ pháp luật, cần tôn trọng ý kiến của nhau, có văn hóa và ứng xử đúng mực trong tranh luận.Các bên tham gia tố tụng có quyền đưa ra quan điểm, cung cấp các chứng cứ, buộc tội cũng như gỡ tội, việc đưa ra chứng cứ bảo đảm có căn cứ pháp luật, được hội đồng xét xử chấp nhận những quan điểm của mình, nếu việc đưa ra luận điểm, chứng cứ không được chấp nhận thì chất lượng tranh tụng chưa tốt. Kết quả đánh giá chất lượng giải quyết các vụ án hình sự thể hiện xét xử đúng người, đúng tội, không để xảy ra trường hợp oan sai. Hạn chế tình trạng xét xử oan sai, làm cho các bản án bị cấp trên hủy, sửa.Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm, Kiểm sát viên, Luật sư thực hiện tốt chức năng của mình, chủ động, tích cực, có kế hoạch trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, đảm bảo tốt cho phiên tòa. Việc chuẩn bị tốt, có kế hoạch, đảm bảo vụ án xét xử một cách toàn diện, các bên đưa ra quan điểm, bác bỏ quan điểm có căn cứ, làm cơ sở Thẩm phán ra quyết định bản án, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, thông qua đó góp phần bảo đảm chất lượng tranh tụng của được tốt.

3. Ý nghĩa bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự

3.1 Có ý nghĩa chính trị sâu sắc, thể chế hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp

Từ trước tới nay vấn đề tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng được quan tâm và đề cập tới nhiều. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương về vấn đề này, cụ thể: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Tiếp đó, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Nghị quyết 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 yêu cầu: “…Đặc biệt các chủ trương trên đã được thể chế hóa tại Khoản 5 Điều 103 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Bộ luật TTHS năm 2015 khẳng định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” tại Điều 26.

3.2 Bảo đảm TT tại PT tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả về nhận thức lẫn hoạt động thực tiễn trong việc xét xử

Nguyên tắc bảo đảm tranh tụng được quy định cụ thể trong các văn bản luật, tạo chuyển biến mạnh mẽ về ý thức, nhận thức của các cán bộ, những người tham gia tố tụng khi tham gia vào hoạt động tranh tụng. Với những quy định của pháp luật được ghi nhận, trong hoạt động xét xử của Tòa án sẽ thay đổi cách thức thực hiện, đổi mới đảm bảo tranh tụng để có một phiên tòa công bằng, dân chủ.

3.3 Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân

Trong hoạt động tố tụng hình sự, một bên cơ quan tiến hành tố tụng với đầy đủ trang thiết bị, chức năng nhiệm vụ, một bên là người bị buộc tội yếu thế nên đây được xem là hoạt động nhạy cảm ảnh hưởng không nhỏ đến việc thực hiện quyền con người. Việc bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa được Quy định trong Hiến pháp, pháp luật tố tụng hình sự bằng các quy định đúng đắn, hợp lý, khả thi và đảm bảo thực hiện các quy định đó trên thực tế, trở thành mục tiêu cao nhất trong xây dựng Nhà nước pháp quyền ở các quốc gia.

3.4 Bảo đảm TT tại phiên tòa thể hiện tính nhân văn, nhân đạo được trong những trường hợp theo quy định của pháp luật

Nếu bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không có điều kiện để mời Luật sư bào chữa thì các cơ quan tiến hành tố tụng trong chức năng, nhiệm vụ của mình yêu cầu đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ (nếu các vụ án thuộc trường hợp chỉ định). Trong các trường hợp khác cần tạo điều kiện để người bào chữa và bị cáo thực hiện các quyền đặc biệt là quyền thu thập, đánh giá chứng cứ tranh luận tại phiên tòa, để đảm bảo quyền cho người được bào chữa.

3.5 Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa biểu hiện của việc thực hiện bình đẳng, dân chủ trong hoạt động tư pháp TTHS

Pháp luật quy định rõ mối quan hệ, vị trí giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án đảm bảo bình đẳng, đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng. Chỉ trên cơ sở bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì hoạt động tranh tụng mới đảm bảo chất lượng, tính thực thi.

3.6 Bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa góp phần xác định sự thật khách quan của vụ án

Bảo đảm xét xử đúng người đúng tội, không để lọt tội phạm, không để oan sai. Hoạt động tố tụng với các thủ tục xét xử công khai, bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bản án của Toà án chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng giữa các bên.” Với quy định của nguyên tác tranh tụng góp phần khắc phục tình trạng để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm, hạn chế đến mức tối đa tình trạng bị oan, sai trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, đảm bảo Tòa án ra bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê