1. Cơ chế bảo đảm tranh tụng tại phiên tòa hình sự

Với việc ghi nhận và bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo tại Hiến pháp năm 2013Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Đây là tư tưởng, quan điểm có tính chỉ đạo xuyên suốt quá trình xây dựng và đã được cụ thể trong các thủ tục tố tụng nói chung, thủ tục xét xử nói riêng, bởi xét xử được coi là hoạt động trọng tâm của toàn bộ hoạt động tố tụng với các thủ tục xét xử công khai, bảo đảm cho những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự, góp phần khắc phục tình trạng để xảy ra oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Để nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm thực hiện trên thực tế thì cần bảo đảm sau:

1.1 Một là, đảm bảo về mặt pháp lý

Thứ nhất, việc ghi nhận các nguyên tắc và quy định về nguyên tắc tranh tụng trong xét được bảo đảm ở những văn bản có giá trị pháp lý cao như Hiến pháp và Bộ luật là bước tiến bộ của lập pháp nước ta. Vì vậy, pháp luật cần có cụ thể hóa, bằng các quy định đầy đủ, rõ ràng, về địa vị tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng tại phiên tòa để họ có thể thực hiện được đầy đủ các nội dung tranh tụng theo chức năng, nhiệm vụ hoặc lợi ích của mình, đảm bảo cho các chủ thể được chủ động thu thập vật chứng, chứng cứ, được yêu cầu cung cấp các tài liệu phục vụ cho qua trình xác định sự thật vụ án.
Thứ hai, pháp luật quy định rõ mối quan hệ, sự bình đẳng trước Tòa án của giữa những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Đây là tiền đề quan trọng để các chủ thể thực hiện hoạt động tranh tụng bảo vệ quan điểm, quyền lợi của mình khi tham gia tố tụng. Chỉ trên cơ sở các quy định về bảo đảm sự bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ thì hoạt động tranh tụng tại phiên tòa mới thực chất. Do vậy, cần mở rộng phạm vi các vụ án hình sự có sự tham gia bắt buộc của luật sư nhằm tạo điều kiện cho tranh tụng được bảo đảm.

1.2 Hai là, bảo đảm về mặt tổ chức

Cần có sự quy định rõ rằng về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng đảm bảo đúng chức năng của tố tụng hình sự; quy định nhiệm vụ, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng trong quá trình hoạt động tố tụng tạo điều kiện nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực đảm bảo thực hiện tranh tụng tại phiên tòa phù hợp với cơ chế tranh tụng. Cần có sự quan tâm cũng như hỗ trợ của Nhà nước đối với các tổ chức hành nghề luật sư, các trung tâm tư vấn pháp lý miễn phí, để cho người dân, những đối tượng thuộc diện khó khăn có điều kiện được hưởng tư vấn pháp luật; mở rộng phạm vi bào chữa bắt buộc, thời điểm tham gia bào chữa của luật sư trong vụ án để đảm bảo các vụ án hình sự có người bào chữa được tham gia ngày càng nhiều.

1.3 Ba là, bảo đảm cơ sở vật chất cho quá trình tranh tụng

Hiện nay, việc áp dụng ghi âm, ghi hình có âm thanh trong điều tra vụ án hình sự được quy định tại Điều 3 Thông tư liên tịch 03/2018/TTLT-BCA- VKSNDTC-TANDTC-BQP hướng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh; sử dụng, bảo quản, lưu trữ kết quả ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử do Bộ trưởng Bộ Công an - Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao - Chánh án Tòa án nhân dân tối cao - Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành (có hiệu lực ngày 18/03/2018), đây là một trong những quy định tiến bộ bảo đảm sự khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, hạn chế tình trạng, bức cung, mớm cung, dùng nhục hình của các cơ quan tố tụng. Vì vậy, cần có sự đảm bảo trang bị đầy đủ, hệ thống cơ sở vật chất của các phòng hỏi cung, lấy lời khai trong quá trình điều tra, truy tố. Đối với hội trường xét xử cần có sự sắp xếp, cấu trúc đảm bảo phù hợp mô hình tranh tụng, vị trí của các bên tham gia phiên tòa bảo đảm thể hiện sự bình đẳng, công bằng, khách quan của bên buộc tội và bên bào chữa, gỡ tội. Hệ thống âm thanh, thiết bị ghi âm, ghi hình rõ ràng, chất lượng để đảm bảo tính nghiêm minh của phiên tòa.

1.4 Bốn là, nâng cao trình độ, năng lực của các chủ thể thực hiện nguyên tắc tranh tụng tại phiên tòa

Đối với những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng, cần nâng cao trình độ, năng lực công tác, cũng như những hiểu biết của những người tham gia tố tụng, để họ thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình. Đối với các Thẩm phán, cán bộ công tác tại Tòa án, cần đảm bảo về số lượng và chất lượng, có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp để thực hiện tốt nhiệm vụ của mình được giao.
Trong quá trình thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình, đáp ứng các yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay, các Thẩm phán, Hội thẩm cần xác định trách nhiệm, có nhận thức, đảm bảo thống nhất, xác định tầm quan trọng tinh thần cải cách tư pháp về bảo đảm tranh tụng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của mình, Thẩm phán là người cầm cần nảy mực, nên đòi hỏi phải vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, điều khiển phiên tòa đúng thủ tục, trình tự đảm bảo công bằng, khách quan. Việc ra quyết định, bản án cần xem xét một cách toàn diện trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa.
Viện kiểm sát các cấp quan tâm, có kế hoạch về đào tạo cán bộ, bồi dưỡng nghiệp vụ đội ngũ Kiểm sát viên làm công tác tranh tụng tại phiên tòa. Thường xuyên học tập, tranh bị kỹ năng cần thiết, các kỹ năng nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Đối với kiểm sát viên tham gia phiên tòa cần có sự chuẩn bị kế hoạch chu đáo, dự lường những trường hợp phát sinh tại phiên tòa, nhất là trong những vụ án có nhiều bị cáo, nhiều luật sư tham gia, đảm bảo tranh tụng đúng mực, có căn cứ, tranh luận cần đi vào những nội dung trọng tâm của vụ án.
Đối với tổ chức Luật sư tham gia tranh tụng cần tổ chức đào tạo bài bản, đảm chất lượng hoạt động của đội ngũ Luật sư nhằm đáp ứng sự phát triển của xã hội cần phát triển đội ngũ Luật sư cả về số lượng và chất lượng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp.

2. Quy định pháp luật về bảo đảm tranh tụng phiên tòa hình sự

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền, việc các quy định pháp luật về mở rộng quyền dân chủ, đã được Đảng và nhà nước ta đặc biệt quan tâm, nhằm đảm bảo công bằng xã hội, sự nghiêm minh của pháp luật được thực thi. Vấn đề đảm bảo quyền con người được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chú trọng, đặc biệt trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Xác định được tầm quan trọng đó, đảng và nhà nước ta có nhiều chính sách, chủ trương về công tác cải cách tư pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, chất lượng giải quyết các vụ án.
Các chính sách, quy định của tố tụng hình sự đảm bảo đầy đủ, công bằng đảm bảo khách quan, chính xác, không bỏ lọt tội phạm cũng như không được làm oan người vô tội được Đảng và Nhà nước ta quan tâm và xem đây là một trong những nội dung lớn của cải cách tư pháp đã được Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 ghi rõ "nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp"; Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp đề cập "nâng cao chất lượng tranh tụng của kiểm sát viên tại phiên toà, đảm bảo việc tranh tụng dân chủ với luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác". 
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 được ban hành, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp, nguyên tắc tranh tụng được thừa nhận chính thức trong một văn bản pháp lý tối cao của Nhà nước. Hiến pháp 2013, tại khoản 5 Điều 103 quy định: “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm”. Đây là định hướng chỉ đạo cho việc tiếp tục quy định nguyên tắc tranh tụng trong BLTTHS. Ngày 27/12/2015 BLTTHS đã được Quốc hội thông qua, nguyên tắc tranh tụng được thể hiện tại Điều 26 như sau:
Điều 26. Tranh tụng trong xét xử được bảo đảm
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người khác có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người bị buộc tội, người bào chữa và người tham gia tố tụng khác đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánh giá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án.
...
Trên cơ sở bổ sung nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có nhiều nội dung để cụ thể hóa, bảo đảm nguyên tắc này được thực hiện trên thực tế:
- Một là: Quy định đầy đủ các quyền và các cơ chế để đảm bảo các quyền của người bị buộc tội, nhất là quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa. Theo đó, người buộc tội (người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo), đã bổ sung một nhóm các quyền mới nhằm giúp họ nắm bắt kịp thời chứng cứ buộc tội làm cơ sở cho việc chuẩn bị bào chữa, như: Quyền được các cơ quan THTT cung cấp đầy đủ các quyết định liên quan đến việc buộc tội; Quyền được trình bày lời khai, đưa ra ý kiến, không buộc phải đưa ra lời khai chống lại mình hoặc buộc phải nhận mình có tội; Quyền đọc, ghi chép ban sao hoặc tài liệu đã được đã được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội hoặc bản sao các tài liệu khác liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra; Quyền đưa ra chứng cứ thay vì chỉ có quyền đưa ra các tài liệu, đồ vật như hiện nay. Bị can quyền đọc, ghi chép bản sao tài liệu hoặc tài liệu được số hóa liên quan đến việc buộc tội, gỡ tội (Điều 60).
Để bảo đảm quyền tự bào chữa, quyền nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa của người bị bắt, tạm giữ, bị can, bị cáo, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan trong việc bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội, BLTTHS năm 2015 có rất nhiều sự sửa đổi, bổ sung quan trọng, cụ thể: Mở rộng chủ thể được đảm bảo quyền bào chữa, theo đó, ngoài 03 chủ thể đã được bảo đảm quyền bào chữa: Người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt cũng được đảm bảo quyền bào chữa (Điều 58).
Mở rộng và chính thức ghi nhận địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý theo đó, BLTTHS năm 2015, Người bào chữa có thể là: Luật sư; Người đại diện của người bị buộc tội; Bào chữa viên nhân dân; và Trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Mở rộng diện người bào chữa theo chỉ định, theo đó cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải chỉ định người bào chữa cho bị can, bị cáo bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mà BLHS quy định mức cao nhất là 20 năm tù; Bổ sung người thân thích của người bị buộc tội có quyền mời người bào chữa, thay vì chỉ có người bị buộc tội và người đại diện hợp pháp của họ có quyền mời người bào chữa (Điều 75).
- Hai là: Quy định đầy đủ các quyền và cơ chế bảo đảm các quyền của người bào chữa, tạo sự bình đẳng và các điều kiện thuận lợi cho người bào chữa tham gia các hoạt động tố tụng hình sự. Để bảo đảm tranh tụng dân chủ, cũng như đảm bảo quyền bào chữa cho bị can, bị cáo, BLTTHS 2015 quy định cho người bào chữa có quyền thu thập chứng cứ thay vì chỉ có quyền thu thập tài liệu, đồ vật như hiện nay; đồng thời, quy định người bào chữa có quyền kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá (Điều 73); BLTTHS năm 2015 quy định thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng sớm hơn (kể từ khi có người bị bắt) thay vì tham gia từ khi có quyết định tạm giữ như hiện nay (Điều 74). Đồng thời, ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, luật sư có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, bị kiến nghị khởi tố (Điều 83).
Nhằm bảo đảm tính minh bạch của pháp luật, tránh sự nhận thức không chính xác rằng người người bào chữa tham gia tố tụng hoàn toàn phụ thuộc vào sự chấp nhận hay không của cơ quan TTHS, BLTTHS năm 2015 đã quy định chuyển đổi thủ tục “cấp giấy chứng nhận người bào chữa” bằng thủ tục “đăng ký bào chữa”, đồng thời rút ngắn thời gian đăng ký bào chữa từ 03 ngày xuống còn 24h nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa nhanh chóng tiếp cận vào quá trình giải quyết vụ án. Văn bản thông báo người bào chữa (hình thức pháp lý công nhận đủ điều kiện đăng ký bào chữa) có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng, thay vì chỉ có giá trị trong từng giai đoạn tố tụng như trước đây.
Nhằm tạo điều kiện cho người bào chữa được gặp bị can, bị cáo trong trại tạm giam, tiếp cận ngay từ đầy với các chứng cứ buộc tội, gỡ tội trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa, BLTTHS năm 2015 đã quy định rõ trình tự, thủ tục để người bào chữa được gặp bị can, bị cáo trong trại tạm giam, cụ thể: Để gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bào chữa phải xuất trình văn bản thông báo người bào chữa, Thẻ luật sư hoặc Thẻ trợ giúp viên pháp lý hoặc Chứng minh nhân dân hoặc thẻ Căn cước công dân. Bổ sung quy định về trách của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng về việc bố trí thời gian, địa điểm để người bào chữa đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra khi người bào chữa có yêu cầu (Điều 82); Bổ sung và quy định rõ trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng phải thông báo trước cho người bào chữa về thời gian, địa điểm tiến hành các hoạt động tố tụng để người bào chữa tham gia theo quy định của pháp luật (Điều 79). BLTTHS năm 2015 quy định về cách thức người bào chữa thu thập chứng cứ, theo đó để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa (Khoản 2 Điều 88).
- Ba là: Quy định đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Viện kiểm sát, Kiểm sát viên và các trình tự, thủ tục trong giai đoạn điều tra, truy tố để bảo đảm việc buộc tội, tranh tụng tại phiên tòa. BLTTHS năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung nhằm nâng cao vị trí, vai trò của các cơ quan THTT, như Viện kiểm sát, kiểm sát viên thực hành quyền công tố ngay từ khi cơ quan điều tra tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm; trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố trong trường hợp phát hiện Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong hoạt động kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà Viện kiểm sát đã yêu cầu bằng văn bản nhưng không được khắc phục (Điều 145).
- Bốn là: Quy định rõ trách nhiệm của Tòa án và các thủ tục tố tụng tại phiên tòa để bảo đảm việc tranh tụng trong xét xử. Tòa án là trung tâm, xét xử là trọng tâm, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung nhiều quy định để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong xét xử. Cụ thể nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung một điều luật về giải quyết yêu cầu, đề nghị trước khi mở phiên tòa (Điều 279), trong đó quy định rõ trách nhiệm của Tòa án đối với việc giải quyết yêu cầu của Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng về việc cung cấp, bổ sung chứng cứ; triệu tập người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác đến phiên tòa. Đây là quy định mới có ý nghĩa quan trọng trong việc sàng lọc các chứng cứ buộc tội được thu thập không hợp pháp, việc tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội liên quan việc đánh giá chứng cứ có cơ hội được thực hiện ngay trước khi mở phiên tòa và bảo đảm các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được đưa đến Tòa án để xét xử phải đầy đủ và hợp pháp, phiên tòa có đầy đủ các chủ thể tố tụng.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi theo hướng Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải có mặt để thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa. Theo quy định mới của bộ luật tố tụng hình sự tron vụ án phức tạp có nhiều kiểm sát viên tham gia. Việc căn cứ và tính chất vụ án và công việc, Viện trưởng quyết định phân công số Kiểm sát viên tham gia phiên tòa (Điều 289). Để đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo, đồng thời nhấn mạnh đến việc tôn trọng ý chí của bị cáo trong trường hợp bị cáo nhận thấy sự vắng mặt của người bào chữa không ảnh hưởng đến quyền tự bào chữa và khắc phục tình trạng phải hoãn phiên tòa nhiều lần do vắng mặt người bào chữa như hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 sửa đổi quy định về sự có mặt của người bào chữa theo hướng trường hợp người bào chữa vắng mặt lần thứ nhất vì lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan thì cần hoãn phiên tòa.
Khắc phục tình trạng trong thực tế trong nhiều phiên tòa, bị cáo không nhận tội và cho rằng việc khai nhận tại Cơ quan điều tra là do bị ép, bức cung, bảo đảm thống nhất với quy định của Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa với tư cách là người đã điều tra vụ án (Điều 296) để góp phần làm rõ những chứng cứ hoặc những vấn đề có liên quan đến vụ án, làm rõ trách nhiệm của Điều tra viên, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, bảo đảm các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn, có cơ sở chắc chắn xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Để bảo đảm sự độc lập của Tòa án trong xét xử, bảo đảm phán quyết của Tòa án phải trên cơ sở kết quả xét hỏi, tranh tụng và những chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên tòa, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định về giới hạn của việc xét xử trường hợp xét thấy cần xét xử bị cáo về tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố thì Tòa án trả hồ sơ để Viện kiểm sát truy tố lại và thông báo rõ lý do cho bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo, người bào chữa biết; nếu Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên tội danh đã truy tố thì Tòa án có quyền xét xử bị cáo về tội danh nặng hơn đó nhưng quá trình xét xử phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo và tuân thủ các quy định khác của Bộ luật (Điều 298).
Nhằm cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụng trong xét xử, bảo đảm việc tranh tụng không chỉ thể hiện ở phần tranh luận mà còn được thể hiện ngay trong phần xét hỏi, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã nhập thủ tục xét hỏi tại phiên tòa với thủ tục tranh luận tại phiên tòa thành “Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa” (Mục V Chương XXI – Xét xử sơ thẩm), coi đây là nội dung cốt lõi thể hiện nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
Đã đổi mới trình tự xét hỏi tại phiên. Các quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung, quy định cụ thể việc tranh tụng đảm bảo được thực hiện nhiều giai đoạn, ngay cả giai đoạn xét hỏi, đảm bảo làm rõ đầy đủ các nội dung, và những người tố tụng tham gia. Luật cũng quy định rõ việc Thẩm phán chủ tọa là người tiến hành điều hành việc hỏi, quy định cho phép ai được hỏi trước, ai được hỏi sau nhằm đảm bảo quá trình hợp lý khi giải quyết vụ án.
Để có cơ sở tranh luận dân chủ tại phiên tòa xét xử các vụ án hình sự, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bổ sung quy định nội dung luận tội của Kiểm sát viên phải phân tích, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội; tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; nhân thân và vai trò của bị cáo trong vụ án; tội danh, hình phạt, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luật hình sự, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức bồi thường thiệt hại, xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp; nguyên nhân, điều kiện phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ bản án phải căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, theo đó bổ sung yêu cầu đối với bản án sơ thẩm là phải rõ ý kiến của người bào chữa, bị hại, đương sự, người khác tham gia phiên tòa được Tòa án triệu tập; phân tích lý do mà Hội đồng xét xử không chấp nhận những chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội, yêu cầu, đề nghị của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, bị hại, đương sự và người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ đưa ra; phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty Luật Minh Khuê