1. Mục đích

Giúp cho các Luật sư trao đổi và để hiểu sâu hơn về kỹ năng tranh tụng của Luật sư trong vụ án dân sự, trang bị các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết cho các Luật sư trong việc xác định ngay từ khi khách hàng đặt vấn đề bảo vệ quyền lợi cho họ (có thể từ khi bắt đầu khởi kiện hay bất kỳ giai đoạn tố tụng nào). Như vậy, với Luật sư tranh tụng kỹ năng từ giai đoạn khởi kiện đến kỹ năng thu thập chứng cứ phân tích, đánh giá, sử dụng chứng cứ, kỹ năng viết bản luận cứ, kỹ năng chuẩn bị các việc liên quan đến trước khi ra phiên tòa, kỹ năng tại phiên tòa sơ thẩm và kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm thực sự là cần thiết. Xuất phát từ mục đích đó, trong khuôn khổ bài viết này tôi muốn giới thiệu thêm một số kỹ năng cơ bản trong tranh tụng dân sự chúng ta hãy cùng tìm hiểu, trao đổi để có kỹ năng tranh tụng tốt hơn đối với  các vụ án dân sự nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của khách hàng ngày càng đạt được hiệu qủa.

 

2. Yêu cầu

Giới thiệu một cách hệ thống các kỹ năng của Luật sư từ khi giúp khách hàng quyết định khởi kiện, kỹ năng xác định quan hệ tranh chấp; kỹ năng hòa giải; kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá, sử dụng chứng cứ; kỹ năng viết bản luận cứ cho đến kỹ năng tranh tụng phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và trong giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm;

Đề cập được các đặc thù trong kỹ năng tranh tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm;

Nêu cách thức xử lý một số tình huống phát sinh tại phiên tòa dân sự sơ thẩm và phúc thẩm nhằm trang bị thêm kinh nghiệm nghề nghiệp cho các Luật sư;

Trang bị kỹ năng soạn thảo đơn kháng cáo, nộp đơn kháng cáo và chuẩn bị tranh tụng giai đoạn phúc thẩm;

Trang bị kỹ năng của Luật sư trong việc xác định những điều kiện giám đốc thẩm, tái thẩm và giúp khách hàng viết đơn khiếu nại.

 

I. Kỹ năng của Luật sư tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự 

Vậy Luật sư cần có kỹ năng gì để tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm? Dưới đây chúng tôi sẽ nêu những kỹ năng của Luật sư tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm thành các mục sau:

Dưới đây là những vấn đề cần lưu ý trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa:

1. Về các yêu cầu hoãn phiên tòa

“Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Tòa án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập có người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;

d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”

......

Như vậy, theo quy định của pháp luật, HĐXX chỉ có quyền hoãn phiên tòa trong một số trường hợp nhất định. Trong những trường hợp HĐXX đề nghị hoãn phiên tòa không theo các căn cứ nêu trên Luật sư có quyền đề xuất ý kiến để phản đối quyết định hoãn đó. Ngoài ra, trong một số trường hợp mặc dù không có các căn cứ do Luật định nhưng theo thông lệ và được chấp nhận tại các Tòa án nhân dân thì Luật sư cũng không nên quá gay gắt khi bày tỏ quan điểm phản đối của mình. Ngược lại, Luật sư có thể tận dụng những cơ hội như vậy nếu thấy việc hoãn phiên tòa là cần thiết và có lợi cho thân chủ của mình.

2. Về các yêu cầu cung cấp thêm chứng cứ hoặc triệu tập thêm người làm chứng

Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa trước khi kết thúc chủ tọa phiên tòa thường hỏi những người tham gia tố tụng xem có ai yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc cung cấp thêm bằng chứng hay không, nếu có người yêu cầu thì HĐXX xem xét và quyết định. Như vậy, trong trường hợp cần phải triệu tập thêm người làm chứng hoặc cung cấp thêm bằng chứng, Luật sư cần triệt để tận dụng cơ hội đó. Như trong phần cung cấp chứng cứ đã nêu có thể có những chứng cứ mà trước đó thân chủ của mình hoặc Luật sư chưa có cơ hội hoặc chưa muốn cung cấp cho Tòa án thì là cơ hội tốt để cung cấp cho Tòa án những chứng cứ đó. Nếu Tòa án không đặt câu hỏi về việc yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng hoặc cung cấp thêm bằng chứng mà Luật sư thấy cần thiết phải làm việc đó để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng của mình thì Luật sư phải chủ động đề xuất với HĐXX để HĐXX xem xét và quyết định.

Thực tiễn cho thấy Luật sư chưa tận dụng triệt để quyền của mình trong giai đoạn này để đề nghị Tòa án triệu tập thêm người làm chứng.

3. Luật sư trong giai đoạn xét hỏi

Giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa là giai đoạn điều tra công khai có sự tham gia của tất cả những người tham gia tố tụng. Trong giai đoạn này các chứng cứ được lần lượt công bố, phân tích, so sánh, nghiên cứu và tự thân nó bộc lộ giá trị chứng minh của chúng. Luật sư cần phải có mặt tại phiên tòa trong suốt thời gian xét xử, trừ trường hợp đặc biệt. Luật sư cần phải chú ý theo dõi quá trình HĐXX tiến hành thủ tục xét hỏi tại phiên tòa. Về mặt thủ tục, Luật sư có quyền được đặt các câu hỏi để bảo vệ quyền lợi cho khách hàng của mình bằng cách thông qua các câu trả lời để khẳng định công khai những vấn đề cần phải làm sáng tỏ trong vụ án.

Ghi chép diễn biến của phiên tòa

Khi theo dõi thủ tục xét hỏi tại phiên tòa, Luật sư cần phải ghi chép đầy đủ lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện của đương sự, kiểm sát viên, người làm chứng, người giám định, quá trình xem xét vật chứng. Việc ghi chép phải bảo đảm nguyên tắc ngắn gọn, đầy đủ và làm nổi bật được những ý chính. Đối với những tình tiết đặc biệt cần phải ghi chép riêng biệt hoặc phải nhấn mạnh để dễ lưu ý khi xem xét lại. Bản ghi chép này là tiền đề để Luật sư đặt các câu hỏi cho thân chủ của mình hoặc cho những người tham gia tố tụng khác để họ tự mình khẳng định công khai trước Tòa những vấn đề cần được làm rõ. Trong quá trình ghi chép cũng cần lưu ý cả những câu hỏi và câu trả lời của HĐXX cũng như của những người tham gia tố tụng khác. Thông thường, thông qua các câu hỏi của HĐXX hoặc đại diện VKS, Luật sư sơ bộ có thể nắm bắt được những quan điểm cơ bản của họ. Thông qua đó Luật sư có thể điều chỉnh bản luận cứ của mình hướng vào việc làm sáng tỏ các quan điểm của HĐXX và VKS mà Luật sư đã dự đoán theo hướng có lợi cho thân chủ của mình. Ghi chép các quá trình xét hỏi tại phiên tòa còn có ý nghĩa quan trọng trong việc dùng chính những quan điểm đó để làm cơ sở phản bác của mình trong trường hợp cần thiết. Nếu có điều kiện, khi ghi chép Luật sư cần sử dụng các loại mực khác nhau để dễ ghi nhớ khi xem xét lại.

Đặt các câu hỏi

Luật sư có quyền đặt các câu hỏi để yêu cầu thân chủ của mình hoặc những người tham gia tố tụng khác trả lời cho Tòa án nhằm làm rõ những tình tiết quan trọng. Khi đặt các câu hỏi, Luật sư cần lưu ý chỉ nên đặt các câu hỏi đúng vào trọng tâm, ngắn gọn, dễ trả lời. Không bao giờ Luật sư vừa đặt các câu hỏi vừa tự mình giải thích các câu hỏi đó cũng như vừa gợi ý trả lời các câu hỏi đó. Trong những trường hợp khi các câu hỏi của Luật sư được các đương sự trả lời mà Luật sư thấy cần thiết phải nhấn mạnh thì đề nghị HĐXX lưu ý và đề nghị thư ký phiên tòa ghi nhận điều đó vào biên bản phiên tòa. Những câu hỏi và câu trả lời mà Luật sư đã đặt ra và được nghe trả lời trong quá trình thẩm vấn tại phiên tòa đều có thể được Luật sư sử dụng để cập nhật và bổ sung cho bản luận cứ của mình. Trong trường hợp trong bản luận cứ Luật sư nhắc lại những câu trả lời của đương sự ngay tại phiên tòa thì Luật sư cũng phải nhấn mạnh là điều đó đã được chính các đương sự tự mình khẳng định tại phiên tòa hôm nay. Đối với các câu hỏi dành cho thân chủ của mình, Luật sư không nên đặt ra những vấn đề hóc búa mà trước đó Luật sư chưa có điều kiện trao đổi với thân chủ. Chỉ nên đặt những câu hỏi mà từ trước đó Luật sư đã trao đổi với thân chủ của mình, hai bên đã thống nhất về câu hỏi và câu trả lời. Thân chủ cũng đã được thông báo trước về ý định của Luật sư khi muốn mình trả lời những câu hỏi đó. Thực tiễn hành nghề của các Luật sư cho thấy Luật sư không nên hỏi thân chủ của mình quá nhiều. Tránh tình trạng biến phần xét hỏi thành phần tranh luận. Trong phần xét hỏi Luật sư chỉ nên đặt các câu hỏi để các đương sự trả lời và ghi chép lại đầy đủ những tình tiết cần thiết chứ không bình luận gì thêm. Tất cả việc đánh giá chứng cứ, nhận định và kết luận về những gì đã diễn ra trong phần xét hỏi cần thiết phải được thể hiện trong phần tranh luận.

4. Tranh luận tại phiên tòa

Trong phần tranh luận nếu có sự tham gia của Luật sư, Luật sư của nguyên đơn sẽ được trình bày quan điểm của mình trước HĐXX. Trong phần tranh luận, khi trình bày quan điểm của mình Luật sư cần nhận định về các tình tiết quan trọng của vụ án, trình bày quá trình đánh giá chứng cứ và khẳng định giá trị chứng minh của các chứng cứ mà Luật sư đã đánh giá. Luôn luôn dùng các văn bản pháp luật làm căn cứ cho những nhận định và kết luận của mình. Trong quá trình tranh luận, thông thường người tham gia tranh luận chỉ có quyền đáp lại ý kiến của người khác một lần đối với mỗi ý kiến mà mình không đồng ý. Khi đáp lại ý kiến mà mình không đồng ý Luật sư nên trình bày ngắn gọn và đi thẳng vào vấn đề đồng thời nếu cần thiết dùng ngay lập luận của họ để phán bác lại. Trong bất kỳ trường hợp nào thì Luật sư cũng phải tôn trọng sự điều khiển của chủ tọa phiên tòa, tránh tình trạng tranh cãi đối với những người tham gia tranh luận. Trong bất kỳ trường hợp nào thì mục đích của việc tranh luận cũng là để làm:

- Sáng tỏ những tình tiết cần chứng minh của vụ án trên cơ sở đó bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Không được lồng các ý tưởng mang tính chủ quan hoặc cá nhân để trình bày trong phần tranh luận. Nếu thấy đã tranh luận về các vấn đề nhưng vẫn chưa rõ hoặc chưa khẳng định được những tình tiết chính trong vụ án thì Luật sư có thể đề nghị HĐXX quay trở lại phần thẩm vấn. Cần lưu ý là khác với thủ tục tranh luận tại phiên tòa hình sự, trong các phiên tòa dân sự, Luật sư không cần tranh luận với VKS mà VKS có quyền là người cuối cùng trình bày quan điểm của mình và đề xuất hướng giải quyết vụ án để HĐXX xem xét và quyết định. Sau khi đại diện VKS trình bày kết luận của mình thì những ngươi tham gia tranh luận không phát biểu gì thêm;

Trình bày bản luận cứ của Luật sư;

Như trên đã nêu bản luận cứ của Luật sư đã được chuẩn bị trước đó, Luật sư đã có sự trao đổi với thân chủ của mình và thống nhất với nhau về các yêu cầu cũng như các phương án mà Luật sư đề xuất với HĐXX. Bản luận cứ cũng đã được Luật sư hoàn chỉnh, cập nhật những ý mới và bổ sung thông qua quá trình xét hỏi tại phiên tòa. Trong phần tranh luận, Luật sư trình bày bản luận cứ của mình công khai trước Tòa để HĐXX và những người tham gia tố tụng khác nắm bắt được quan điểm của Luật sư về nhận định và đánh giá chứng cứ cũng như những kết luận và các đề xuất của Luật sư nhằm bảo vệ quyền lợi cho thân chủ của mình. Bản luận cứ của Luật sư là một tài liệu tố tụng rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa giúp HĐXX có thêm các dữ liệu quan trọng khi nghị án mà còn có giá trị trong các giai đoạn xét xử tiếp theo nếu bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Cần sử dụng một phương pháp trình bày bản luận cứ thích hợp đối với từng vụ án riêng biệt. Có thể vừa kết hợp đọc, nói hoặc trình bày có giải thích trên cơ sở những tình tiết chính của bản luận cứ. Dù Luật sư trình bày bản luận cứ dưới dạng đọc hay dạng nói thì bản luận cứ cũng phải được đánh máy rõ ràng, khúc chiết. Đối với những phần mà cần thiết phải bổ sung trong phần xét hỏi Luật sư nên dành những khoảng trống trong bản luận cứ để cập nhật những tư liệu một cách rõ ràng mà HĐXX có thể chấp nhận được. Như trên đã nêu, ngoài việc viện dẫn các văn bản pháp luật khi nhận định và đánh giá chứng cứ cũng như là việc kết luận những tình tiết của vụ án, Luật sư cần đính kèm theo bản luận cứ của mình các phần trích dẫn của các tài liệu văn bản đó.

Thực tiễn hành nghề cho thấy một Luật sư thu hút được sự quan tâm của HĐXX hoặc của những người tham gia tố tụng và những người tham dự phiên tòa không phải bằng một bài phát biểu đánh máy sẵn, dài dòng mà là nội dung của bài phát biểu đó đề cập được đến những vấn đề gì, có thực sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng hay không? Có đề xuất được với Tòa án những biện pháp có căn cứ, đúng pháp luật, giúp Tòa án ra được một bản án có sức thuyết phục hay không?

Thông thường Luật sư nên tận dụng các cơ hội để nói hoặc trình bày hơn là đọc bài luận cứ. Trong quá trình trình bày, Luật sư nên viện dẫn các chứng cứ viết sẵn, đưa ra trước Tòa án các tài liệu chứng minh cho những gì mình đang nói. Kết hợp so sánh, phân tích, đối chiếu với các tình tiết vừa được kiểm tra công khai tại phiên tòa, không nên lệ thuộc quá nhiều vào bài luận cứ đã viết sẵn.

Lưu ý:

Khi trình bày bản luận cứ của mình, Luật sư đang gửi đến cho HĐXX và những người tham gia tố tụng một bản thông điệp. Như vậy, không phải nói những gì mình thích mà nói những gì Tòa án có thể chấp nhận được.

Bản luận cứ chỉ có một mục đích duy nhất là thuyết phục Tòa án bởi những yêu cầu phù hợp pháp luật của Luật sư nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng của mình;

Bản luận cứ là cách thức để chuyển tải ý nghĩ, vì vậy, để việc chuyển tải thông tin có hiệu quả, bản luận cứ cũng phải tuân theo những quy định nhất định;

Việc truyền đạt thông tin không chỉ là trên giấy tờ và lời nói, mà còn thể hiện ở cử chỉ và điệu bộ.

Tóm lại, khi ở phiên tòa, Luật sư trình bày bản luận cứ của mình sẽ giúp Tòa án hiểu được các quan điểm của mình, do đó phải lựa chọn một hình thức phù hợp để đạt được kết quả. Sau khi trình bày xong nên cung cấp cho tòa một bản sao để họ nghiên cứu được đầy đủ nội dung luật sư cần đề cập.

5. Các công việc cần tiến hành sau phiên tòa sơ thẩm

Luật sư nên giúp đương sự thực hiện quyền kháng cáo. Nếu thấy quyết định của bản án không phù hợp với yêu cầu của mình đã đề ra thì theo yêu cầu của thân chủ, Luật sư cần hướng dẫn cho họ hoặc tự mình soạn thảo Đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại theo trình tự phúc thẩm.

Đơn kháng cáo là một văn bản của đương sự khi họ không đồng ý với quyết định của Tòa án đã xét xử sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

 

II. Kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thấm, tái thẩm vụ án dân sự 

1. Kỹ năng của Luật sư khi tham gia phúc thẩm 

Xác định điều kiện để kháng cáo phúc thẩm

Theo quy định của pháp luật tố tụng, sau khi bản án, quyết định sơ thẩm tuyên, sẽ chưa có hiệu lực pháp luật, mà có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là một trong những quyền tố tụng đặc biệt quan trọng của đương sự. Các đương sự có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo hoặc cũng có thể ủy quyền cho người đại diện  thay mặt mình thực hiện quyền kháng cáo.

Là một quyền tố tụng, nên khi thực hiện quyền kháng cáo cũng phải tuân thủ những quy định của pháp luật tố tụng. Pháp luật tố tụng có nhiều quy định về quyền kháng cáo. Tuy nhiên ở góc độ của đương sự, thì quyền kháng cáo sẽ thực hiện được nếu đảm bảo các điều kiện sau đây:

Về thời hạn kháng cáo

Điều 245 BLTTDS quy định: “Thời hạn kháng cáo:

1. Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là bảy ngày, kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận được quyết định.

3. Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.”

 Chuẩn bị hồ sơ kháng cáo

- Viết đơn kháng cáo.

Đơn kháng cáo cần được viết ngắn gọn, đủ ý, trong đó nêu rõ họ tên của người kháng cáo, tóm tắt nội dung của bán án, quyết định sơ thẩm; những nội dung mà người kháng cáo không đồng ý về đề nghị xem xét lại; những yêu cầu cụ thể.

Đơn kháng cáo cần tránh kể lại nội dung và diễn biến của tranh chấp. Đơn kháng cáo cũng không được kháng cáo về những vấn đề mà tòa án chưa xem xét hoặc đặt ra ở cấp sơ thẩm.

Đơn kháng cáo sẽ được gửi cho Tòa án sơ thẩm đã ra bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo.

- Các giấy tờ kèm theo Đơn kháng cáo

Tham gia phúc thẩm

Chuẩn bị cho việc tham gia phiên tòa

Trong thời gian chuẩn bị xét xử của Tòa án, Luật sư phải có những công việc chuẩn bị cho việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Cụ thể Luật sư có thể đề nghị cho nghiên cứu hồ sơ, qua đó, Luật sư có thể đề nghị với Tòa án áp dụng những biện pháp cần thiết. Về thủ tục hòa giải ở phúc thẩm là không bắt buộc. Tòa án phúc thẩm chỉ tiến hành hòa giải khi có khả năng hòa giải thành. Trong trường hợp nếu hòa giải thành trước khi mở phiên tòa, thì tòa vẫn mở phiên tòa....

Bên cạnh đó, Luật sư phải tích cực chuẩn bị các công việc cần thiết để bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Một trong những việc quan trọng là chuẩn bị bản luận cứ. Nếu so với giai đoạn sơ thẩm, thì ở giai đoạn này, bản luận cứ phải có những điểm khác biệt. Cụ thể, nếu bản luận cứ bảo vệ quyền lợi cho đương sự ở cấp sơ thẩm phải xoay quanh toàn bộ những vấn đề phải giải quyết trong vụ án, thì bản luận cứ ở cấp phúc thẩm chỉ tập trung vào những nội dung đã kháng cáo, những quyết định trong bản án, quyết định sơ thẩm mà đương sự không đồng ý. Do vậy bản luận cứ phúc thẩm phải trình bày được căn cứ, lý do của việc đương sự không đồng ý với cách giải quyết của Tòa án sơ thẩm, những chứng cứ, tài liệu, lập luận, đồng thời bản luận cứ cũng phải đề xuất được những yêu cầu cụ thể để giải quyết được kháng cáo của đương sự.

Cũng cần thiết phải xác định vai trò Luật sư của đương sự kháng cáo và của đương sự không kháng cáo. Nếu là Luật sư của đương sự không kháng cáo, nhất thiết Luật sư phải đề nghị Tòa án cho biết nội dung của kháng cáo. Trên cơ sở đó, Luật sư phải chuẩn bị những phương án bảo vệ quyền lợi cho đương sự theo hướng phản bác lại những nội dung kháng cáo.

Cũng trong quá trình chuẩn bị xét xử, người kháng cáo có quyền bổ sung kháng cáo, rút kháng cáo, thay đổi nội dung kháng cáo theo Điều 256 BLTTDS.

 Tham gia phiên tòa

Sau khi những công việc chuẩn bị hoàn tất, Tòa án cấp phúc thẩm sẽ mở phiên tòa phúc thẩm. Về cơ bản, thủ tục phiên tòa phúc thẩm được tiến hành với các bước giống như phiên tòa sơ thẩm, với thủ tục bắt đầu phiên tòa; thủ tục xét hỏi, thủ tục tranh luận, nghị án và tuyên án. Tại phần thủ tục bắt đầu, HĐXX có thể phải xem xét việc hoãn phiên tòa, yêu cầu thay đổi thẩm phán, KSV, thư ký phiên tòa, người phiên dịch, người giám định. Về căn bản, các điều luật áp dụng để giải quyết các trường hợp này cũng là những điều luật áp dụng ở cấp sơ thẩm.

Do vậy, để việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự được tốt, Luật sư cũng phải tham gia phiên tòa với những kỹ năng giống như kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm. Ngoài việc chuẩn bị những vấn đề về nội dung của vụ án, Luật sư còn phải theo dõi cả những vấn đề thủ tục của phiên tòa và có ý kiến kịp thời để việc thực hiện những thủ tục đó không làm thiệt hại quyền lợi cho đương sự.

Bên cạnh đó, cũng cần phân biệt vai trò của Luật sư với tư cách là người đại diện hay là người bảo vệ quyền lợi cho đương sự. Sự khác nhau về tư cách tham gia sẽ dẫn đến sự khác nhau về vai trò của Luật sư trong phiên tòa.

 

2. Kỹ năng của Luật sư trong giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm

Đặc điểm chung của thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Giám đốc thẩm, tái thẩm là thủ tục xét xử đặc biệt, được tiến hành khi bản án, quyết định đã có hiệu lực của pháp luật.

Vì vậy, nếu ở cấp phúc thẩm, Luật sư có quyền tham gia trực tiếp vào quá trình phúc thẩm, thì ở cấp giám đốc thẩm, tái thẩm, Luật sư chỉ có thể giúp đương sự duy nhất trong việc đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm. Trên cơ sở đề nghị này người có thẩm quyền kháng nghị sẽ xem xét và nếu thấy có đủ những căn cứ được quy định trong pháp luật, mới thực hiện quyền kháng nghị.

Xác định các điều kiện giám đốc thẩm, tái thẩm vụ án

 Căn cứ kháng nghị

- Theo trình tự Giám đốc thẩm.

Điều 283 BLTTDS quy định về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm như sau:“Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án;

2. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng;

3. Có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật.”

- Căn cứ kháng nghị theo trình tự tái thẩm

Điều 305 BLTTDS quy định về căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm như sau:“Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.

Thời hạn kháng nghị

Viết đơn.

 

Trân trọng!