Mục lục bài viết
- 1. Khái quát chung
- 2. Đặc điểm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
- 2.1 Quan hệ bồi thường khi Nhà nước THĐ phát sinh khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
- 2.2 Đối tượng được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
- 2.3 Về phạm vi bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
- 3. Lý do Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
- 4. Ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
1. Khái quát chung
Luật đất đai 2013 cũng căn cứ vào mục đích sử dụng vào mục đích nông nghiệp để liệt kê một số loại đất vào nhóm đất nông nghiệp. Trên thực tế, người nông dân vừa có thể là người nông dân, vừa là ngư dân, vừa là diêm dân vì họ đồng thời sở hữu các loại đất khác nhau. Việc quy định các loại đất được sử dụng vào mục đích nông nghiệp thành nhóm đất nông nghiệp là hoàn toàn hợp lý. Quy định này phù hợp với nhu cầu sở hữu đất đai của người nông dân, bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất trong quản lý đất đai của cơ quan Nhà nước, giúp cho các cơ quan quản lý đất đai ở địa phương thuận lợi trong việc theo dõi, kiểm tra, giám sát quá trình khai thác sử dụng đất của người sử dụng đất.
Theo Luật đất đai 2013 thì 1. Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ.Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất. Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai. Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển.
2. Đặc điểm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
2.1 Quan hệ bồi thường khi Nhà nước THĐ phát sinh khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
Hay nói cách khác sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là hành vi THĐ nông nghiệp của Nhà nước vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng hay vì mục tiêu phát triển kinh tế. Hành vi này không mang yếu tố lỗi của Nhà nước mà nó là kết quả của một trong những hoạt động điều phối đất đai của Nhà nước.
2.2 Đối tượng được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
Đối tượng được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là người sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi đáp ứng được các điều kiện bồi thường do pháp luật quy định. Điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp: quyền sử dụng đất phải được công nhận là tài sản của người sử dụng đất và thuộc loại được phép giao dịch; có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất; việc THĐ không phải do vi phạm pháp luật đất đai.
2.3 Về phạm vi bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp
Đất nông nghiệp là TLSX quan trọng của người nông dân. Con người đã dùng đất nông nghiệp kết hợp với sức lao động đã tạo ra nhiều sản phẩm cho ngành chăn nuôi, trồng trọt, lâm nghiệp… Người nông dân qua quá trình sản xuất đã gắn bó với đất đai vì vậy đất đai không chỉ có ý nghĩa về kinh tế mà còn có ý nghĩa tinh thần đối với họ. Vì vậy, việc bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp không chỉ bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất mà còn bao gồm các chi phí về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước THĐ. Thực hiện tốt công tác bồi thường sẽ giúp người dân thích nghi nhanh với việc bị THĐ, ổn định sản xuất và cuộc sống.
3. Lý do Nhà nước bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Việc THĐ nông nghiệp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là một trong những xu thế tất yếu khách quan. Đi liền với công tác THĐ là công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ. Sở dĩ, Nhà nước phải bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi vì những lí do sau đây:
Thứ nhất, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một Nhà nước pháp quyền. Trong Nhà nước pháp quyền pháp luật luôn được thượng tôn, các cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân đều phải tôn trọng pháp luật. Mọi quyền và nghĩa vụ của mỗi người đều được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền sở hữu tư nhân về tài sản là một trong những quyền đó và được ghi nhận qua các thời kỳ. Hiến pháp năm 1946 quy định: “Quyền sở hữu về tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm”. Tiếp đó Hiến pháp 1992 cũng quy định: “Công dân có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, TLSX…Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, TLSX, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ”. Như vậy, quyền sở tư nhân về tài sản của chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Chính vì vậy, khi Nhà nước THĐ nông nghiệp vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Nhà nước phải có nghĩa vụ bồi thường cho người sử dụng đất bị thu hồi.
Thứ hai, trong Hiến pháp, các văn bản luật và các văn kiện của Đảng đã ghi nhận Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước do nhân dân lao động thiết lập nên, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của nhân dân. Như vậy, lợi ích mà Nhà nước hướng đến đó chính là lợi ích của nhân dân. Do đó, khi Nhà nước THĐ mà gây thiệt hại về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất của người bị thu hồi thì Nhà nước phải có nghĩa vụ bồi thường. Mặt khác, chủ thể hưởng lợi từ hành vi THĐ chính là các thành viên trong xã hội. Vì vậy, các thành viên này phải có nghĩa vụ bù đắp thiệt hại cho người bị THĐ thông qua Nhà nước.
Thứ ba, thiệt hại về lợi ích của người sử dụng đất là hậu quả phát sinh từ hành vi THĐ của Nhà nước gây ra. Trong một Nhà nước pháp quyền, mọi chủ thể bao gồm: Nhà nước, cá nhân, tổ chức…đều bình đẳng trước pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể luôn được pháp luật bảo vệ. Để phục vụ cho mục đích an ninh – quốc phòng, xây dựng cơ sở hạ tầng, các dự án quan trọng của địa phương, của quốc gia nhằm phục vụ cho lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội thì Nhà nước có quyền đơn phương ra quyết định hành chính để THĐ, song Nhà nước phải thể hiện trách nhiệm của mình trong việc bù đắp những thiệt hại, những tổn thất về vật chất cho người dân do việc THĐ gây nên. Đối với đất ở khi bị thu hồi Nhà nước có thể bồi thường bằng một mảnh đất khác hoặc nhà ở tái định cư hoặc bằng tiền. Nhưng đối với đất nông nghiệp phương thức bồi thường bằng đất nông nghiệp khác trở nên không khả thi vì quỹ đất công ích tại các địa phương trên thực tế không nhiều. Đối với phương thức bồi thường bằng tiền khó có thể giành được sự đồng thuận nhất trí của người dân vì sự chênh lệch giữa giá đất nông nghiệp với giá đất phi nông nghiệp và giá đất trên thị trường. Khi bị THĐ nông nghiệp người dân sẽ phải đối mặt với việc mất đi nguồn sống, nguồn làm việc vì mất đi TLSX chính. Hơn nữa bên cạnh việc ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của người dân thì việc THĐ còn ảnh hưởng đến tình cảm, cảm xúc, sinh hoạt, cuộc sống hằng ngày của người dân. Chính vì vậy, Nhà nước phải thực hiện tốt chính sách bồi thường, hỗ trợ để ổn định sinh kế và cuộc sống người có đất bị thu hồi. Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận, thống nhất của người sử dụng đất bị thu hồi, góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
Thứ tư, hiện nay Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là động lực hàng đầu thúc đẩy hội nhập quốc tế phát triển đặc biệt là hội nhập kinh tế quốc tế. Để tận dụng được những thời cơ và vượt qua thách thức của quá trình hội nhập quốc tế đem lại, chúng ta phải phát huy nội lực, tinh thần đoàn kết dân tộc và lòng yêu nước, tính năng động, chủ động, sáng tạo của mỗi người dân. Để làm được điều này chúng ta phải ghi nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân.
4. Ý nghĩa của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp
Đối với người nông dân, đất nông nghiệp đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ. Đất là TLSX chủ yếu và tham gia vào hầu hết các quá trình sản xuất của người nông dân. Chính vì vậy, việc THĐ nông nghiệp của người sử dụng đất phải đảm bảo được lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất bị thu hồi. Nếu việc bồi thường khi Nhà nước THĐ không giành được sự đồng ý, nhất trí cao của người nông dân sẽ gây ra khiếu nại, khiếu kiện dễ dẫn đến hình thành điểm nóng gây mất an ninh chính trị. Vì vậy, thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Một dự án khi triển khai nếu được bồi thường, hỗ trợ thỏa đáng cho người sử dụng đất bị thu hồi thì chủ đầu tư sẽ nhanh chóng GPMB và có quỹ đất sạch để triển khai dự án. Ngược lại, nếu công tác bồi thường, hỗ trợ khi THĐ không thỏa đáng cho người sử dụng đất bị thu hồi thì chủ đầu tư sẽ gặp khó khăn trong quá trình GPMB, dẫn đến dự án bị chậm tiến độ hoặc khó triển khai. Như vậy, nhà đầu tư không chỉ không đầu tư được vào dự án để tiến hành sản xuất kinh doanh mà còn tốn thêm những chi phí khác như lãi suất ngân hàng…Vì vậy, công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ nếu thực hiện tốt sẽ cải thiện môi trường đầu tư của địa phương.
Thực hiện tốt công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ sẽ giúp người sử dụng đất bị thu hồi sớm có phương án chuyển đổi ngành nghề, tìm sinh kế mới để ổn định cuộc sống khi TLSX chủ yếu không còn. Công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ nếu được thực hiện tốt sẽ củng cố niềm tin của người bị THĐ vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời loại trừ cơ hội để kẻ xấu lợi dụng, tuyên truyền, kích động quần chúng nhân dân khiếu kiện, đối đầu với chính quyền nhằm gây mất ổn định tình hình trật tự an toàn xã hội và làm đình trệ sản xuất.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê