1. Đôi nét về cuộc đời đại đức NYANATILOKA

Tên khai sinh của Ngài là Anton Gueth, Ngài sinh năm 1878 tại Wiesbaden, Đức, và mất năm 1957 tại Colombo, Sri Lanka, nơi Ngài được người dân ở đây thể hiện lòng kính trọng với một nghi lễ quốc tang. Cho đến lúc này, Ngài đã là một vị Tỳ-kheo trong năm mươi ba năm.

Khi còn trẻ, Gueth là một nghệ sĩ đàn viôlông và piano tài hoa và cũng đồng thời là một nhà soạn nhạc, nhưng Ngài đã từ bỏ một sự nghiệp âm nhạc đầy hứa hẹn để thực hiện một chuyến đi đến Miến Điện, nơi mà vào năm 1904, ở tuổi 26, Ngài trở thành người châu Âu thứ hai (chỉ sau một người Anh tên là Ananda Metteyya (Allan Bennett)) được thọ giới Tỳ-kheo. Bảy năm sau đó, tại Sri Lanka, Ngài thành lập "Am viện Đảo nổi" (Island Hermitage), mà sau này trở thành một trung tâm cho một cộng đồng nhỏ nhưng ngày càng phát triển của những người Tây Phương, những người mà đã bị cuốn hút bởi đường lối tu hành của Phật Giáo trong những năm đầu của thời đại này. Nhờ số lượng lớn các bản dịch và sự giải thích rõ ràng của Ngài về Kinh điển Pali, mà Ngài trở thành một nhân tố chủ chốt trong việc giới thiệu những giáo lý và đường lối thực hành của Phật Giáo đến với thế giới Phương Tây trong nửa đầu của thế kỷ hai mươi.

Hầu hết những công trình và tác phẩm của Ngài, tuy nhiên, lại được thực hiện trong những điều kiện vô cùng gian lao. Là một công dân Đức, Ngài đã bị bắt giam, đày ải và trục xuất bởi những nhà chức trách Anh Quốc trong cả hai cuộc Thế Chiến. Trong thời kỳ lưu đày khỏi Sri Lanka, Ngài thường xuyên bị bắt phải sống trong những điều kiện kém vệ sinh và vô cùng chật chội, Ngài đã bị nhiễm cả hai căn bệnh đậu mùa và sốt rét. Vậy nhưng trong suốt những thời khắc khó khăn như vậy, cho dù khi bị giam cầm trong các trại tập trung ở Australia hay ở tại Ấn Độ, hoặc khi được nhận vào làm giảng viên tại các trường Đại học ở Nhật Bản, Ngài cũng không hề dao động, vẫn quyết bền lòng với tâm nguyện tu hành và vẫn nỗ lực trong sự nghiệp học thuật của mình, dù thường  chỉ với một nguồn tài nguyên rất ít ỏi cho phép Ngài  được nghiên cứu. Với những  ai chưa từng trải qua sự  hỗn loạn và bất ổn của chiến tranh, và đã quen thuộc với sự truy cập thông tin tức thời từ internet, thì những thành tựu của Nyanatiloka lại càng trở nên đáng kính phục.

Sống ở một thời đại khi mà người châu Âu và châu Mỹ  đã vẫn thường hay xuất gia tu hành theo Đạo Phật, sẽ   thật khó để cho ta hình dung và trân trọng những gì mà Nyanatiloka đã phải trải qua bởi sự buông bỏ triệt để những giá trị truyền thống của Phương Tây.  Trong  những năm đầu của thế kỷ hai mươi, Cơ đốc Giáo đối với đa số người dân châu Âu, vẫn còn là tôn giáo không thể phủ nhận của thế giới văn minh. Cho dù những nhà chỉ trích Đạo Cơ đốc có đồng tình với Phật Giáo đến thế nào chăng nữa-những triết gia như Schopenhauer hay là những hội viên của Hội Thông Thiên Học mới nổi lúc  bấy giờ-không một ai trong số họ xem xét đến việc trở thành một Tỳ-kheo Phật Giáo. Mặc cho bao sự miêu tả cao quý về Đức Phật (như thể hiện trong tác phẩm "Ánh sáng Á Châu" của Edwin Arnold), và ngay cả với những người thán phục, thì Phật Giáo vẫn còn là một thứ gì đó kỳ lạ và ngoại lai. Bằng việc tiến một bước đi rõ rệt và cao hơn, qua sự xuất gia và thọ giới Tỳ-kheo, Nyanatiloka đã bỏ đi những chứng nhận về Cơ đốc Giáo của mình. Đây đòi hỏi không chỉ lòng can đảm trước những định kiến về văn hoá và tôn giáo vô cùng to lớn, mà còn phải với một lòng sẵn sàng tự nguyện để bước vào  một  cuộc hành trình tới những trải nghiệm nhân bản mà thế giới Phương Tây gần như không hề biết đến một chút nào.

Cuộc đời của Đại Đức Nyanatiloka cho ta một tấm gương khích lệ về những nỗ lực của con người trong việc vượt qua những rào cản văn hoá và những phân vân nghi ngờ để hết lòng đón nhận một hệ thống những giá trị, quan điểm, và đường lối thực hành phi-Tây Phương. Vào thời điểm 1904, đây có thể được xem là một tương đương về mặt tâm linh của việc ra khơi khám phá một lục địa vô danh chưa ai đặt chân tới, mà chỉ với những trang thiết bị tầm thường và bản đồ sơ sài nhất. Và cũng giống như các nhà thám hiếm của những vùng đất xa lạ, Ngài có lẽ cũng đã không biết trước được trong đầu về những gì đang chờ đợi mình hay những chướng ngại nào mà mình sẽ phải đương đầu vượt qua. Vậy nhưng, vô cùng ấn tượng là khi tìm hiểu về cuộc đời của Ngài, một người sẽ cảm thấy tính quá khích và ương ngạnh mà thường được trông đợi ở những người xung phong mở đường, thì dường như hoàn toàn trống vắng ở nơi Ngài. Phong cách của Ngài luôn trước sau như một, đó là không vội vàng, thận trọng, kiên nhẫn và tử tế. Những gian khổ nhọc nhằn nhất dường như cũng không còn làm cản trở Ngài thêm được gì nữa, hay những thành tựu của bản thân cũng chẳng khiến Ngài cảm thấy mình trở nên quan trọng là bao.

Mặc dù vẻ bề ngoài của cuộc đời Đại đức Nyanatiloka là khá đa chiều bởi sự rối ren của thời đại, nhưng nhân cách của Ngài lại được thể hiện sâu sắc trong những tác phẩm của mình hay chính trong sự tĩnh lặng thanh bình ở đời sống tu hành giản dị của Ngài. Là một Tỳ-kheo Tây Phương với thâm niên cao, Đại đức đã thu hút rất nhiều đệ tử, và nhờ những tác phẩm của các vị ấy mà ảnh  hưởng của Ngài vẫn còn được cảm nhận mãi cho đến tận ngày nay, sau hơn sáu mươi năm kể từ lúc Ngài viên tịch.

Ngài là giáo thụ của học giả và dịch giả lỗi lạc, Thượng toạ Nyanaponika (Siegmund Feniger), tác giả của "Trái tim của thiền định Phật Giáo", hay Ngài cũng là thầy của Đại đức Nanamoli (Osbert Moore), mà những bản dịch tiếng Anh bao gồm "Trung Bộ Kinh" của Đức Phật, và cả "Thanh Tịnh Đạo Luận" của Buddhaghosa.

 

2. Tìm hiểu về Cuốn Sách “Lời Của Đức Phật”

Xuất bản đầu tiên của Đại Đức Nyanatiloka ra đời vào năm 1906, đó là phiên bản tiếng Đức của cuốn sách "Lời của Đức Phật (Một nét đại cương về giáo lý và lời dạy của Đức Phật như được ghi trong Kinh điển Pali)". Cuốn sách nhỏ nhưng đầy giá trị này đã tiền định để trở thành một áng văn chương kinh điển của Phật Giáo, và theo chiều dài của năm tháng, nó đã có mặt ở 13 ngôn ngữ khác nhau và được phổ biến trên khắp thế giới.

Một bản dịch bằng Tiếng Nga của cuốn sách này (xuất bản năm 1907, dưới sự bảo trợ của Thánh đường Lama ở St. Petersburg), có một tiểu sử đáng kinh ngạc, được kể trong một lá thư gửi tới nhà xuất bản và rất đáng để thuật lại. Bức thư được viết bởi một người phụ nữ, một thành viên và người ủng hộ của Hội Xuất Bản Phật Giáo, cô mang dòng máu Nga ở phia đằng cha, và kế thừa truyền thống Phật Giáo Mông Cổ ở phía đằng mẹ. Vào đầu năm 1933, khi còn là thiếu nữ, cô được gửi tới Berlin để học lên cao hơn, lúc đó bà ngoại của cô, một Phật tử thuần thành, đã tặng cô một bản tiếng Nga của "Lời của Đức Phật", như một món quà chia tay. Khi cô đang ở năm đầu của việc học tập y khoa tại Berlin, nước Nga trở nên liên luỵ vào cuộc chiến tranh, cô bị bắt giữ và bị gửi đến nhiều trại tập trung khác nhau. Và trong khi phải trải qua tất cả các trại và hai nhà tù, cô luôn mang bên mình quyển sách và giấu kĩ nó ở trong người. Ở những trại đầu tiên cô được phép giữ lại nó, nhưng khi cô bị chuyển tới Torgau, một quản trại tịch thu quyển sách và bắt đầu xé nó. Đúng lúc ấy, một viên chỉ huy trẻ tuổi đi ngang qua. "Tôi chạy ập tới ngài ấy", cô kể lại, "cầu xin ngài ấy để tôi được giữ lại vật sở hữu duy nhất của mình, một quyển sách cầu nguyện", rồi cô quỳ lạy dưới chân của viên chỉ huy, một cử chỉ hoàn toàn xa lạ đối với người đàn ông phương Tây và khiến vị sĩ quan vô cùng lúng túng. Còn quá trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm để xử lý những tình huống khó xử  như vậy, viên chỉ huy vực cô dậy, xưng hô với cô một cách lịch sự, và lắp bắp một vài từ vô nghĩa. Cuối cùng sau khi đã tự trấn tĩnh lại, vị sĩ quan ra lệnh cho quản trại khôi phục lại quyển sách và trả về cho cô ấy. Khi viên chỉ huy biết được rằng cô từng là sinh viên y khoa, cô được chuyển sang làm y tá phụ dưỡng ở  trại thương binh, và cô đã đảm nhiệm vai trò này cho đến khi được trả lại tự do vào thời điểm chiến tranh kết thúc. Khi cô gặp người chồng tương lai của mình ở trại tị nạn, chính quyển sách nhỏ này đã giúp giới thiệu anh ấy đến với Phật Giáo, và sau này thì cuối cùng anh đã trở thành một Phật Tử rất nhiệt thành và có một hiểu biết sâu sắc về Phật Giáo. Sau này, khi đã kết hôn, cô và chồng chuyển đến định cư tại Canada, quyển sách này, vốn trải qua một lịch sử khác thường và cảm động, đã được cô đặt trên gian thờ của nhà mình. Cô nói trong thư, "Điều kì diệu của tất cả những điều này, đó là mọi người, cho dù không hề hay biết, đều đã tiếp xúc và đưa mắt đến kho báu vĩ đại nhất mà thế giới này đem lại - những lời thuần khiết của Đức Phật, tôi vô cùng hạnh phúc, sau khi phải đến từ rất xa và phải chịu đựng nhiều nỗi thống khổ và gian truân do bởi nghiệp xấu của mình, để mang những lời của ánh sáng đến với chồng mình".

Quả thực, không thể ước lượng được là bao nhiêu con người đã được giới thiệu tới Giáo Pháp của Đức Phật hay là đạt được một hiểu biết rõ ràng về giáo lý thông qua cuốn sách này. Có những người còn học thuộc lòng toàn bộ cả quyển sách. Tiềm năng của nó trong việc lan truyền và làm sáng tỏ những lời của Đức Phật cho đến nay vẫn chưa hề cạn kiệt, và với những nỗ lực phổ biến cuốn sách một cách rộng rãi và có hệ thống, nó sẽ vẫn còn cho ra nhiều quả ngọt hơn nữa.

Cuốn Lời của Đức Phật, xuất bản lần đầu bằng Tiếng Đức, là một bản khái luận có tính hệ thống chặt chẽ đầu tiên, trình bày về tất cả những giáo lý căn bản của Phật Giáo, theo như chính những lời của bậc Đạo sư mà được tìm thấy trong Kinh Tạng Nikaya thuộc hệ Tam Tạng Pali.

Và trong khi nó có thể phục vụ rất tốt như là một lời giới thiệu đầu tiên dành cho người mới bắt đầu, mục tiêu chính của nó lại là để đưa tới những độc giả vốn đã ít nhiều làm quen với những khái niệm căn bản của Phật Giáo, một bản tóm tắt rõ ràng, súc tích, và chân thực về những giáo lý đa dạng của Phật Pháp, ở bên trong khuôn phạm của một nguyên lý cốt lõi mà bao trùm lên tất cả, đó chính là "Tứ Diệu Đế", hay bốn "Sự Thật Cao Quý" về khổ, về nguyên nhân, sự chấm dứt, và con đường đưa đến chấm dứt của khổ. Và ở trong chính cuốn sách này độc giả sẽ tự thấy cho mình, rằng tất cả những lời dạy của Đức Phật cuối cùng đều tập trung lại vào một đích đến duy nhất: Sự tự do giải thoát khỏi khổ đau. Cũng bởi lý do này mà ở trang tiêu đề của ấn bản lần đầu bằng Tiếng Đức có in một trích đoạn như sau từ Tăng chi bộ Kinh:

Không chỉ khổ đau Ta thuyết giảng, mà còn về sự chấm dứt của nó.

Những văn bản ở đây, được dịch từ nguyên bản Pali, đã được chọn lọc từ năm bộ sách lớn hợp thành nên Kinh Tạng Nikaya. Và đã được sắp xếp, trình bày theo một văn phạm mà làm cho chúng trở thành một thể hoàn chỉnh thống nhất. Vậy nên tuyển tập này, mà mục đích ban đầu vốn được biên soạn để phục vụ cho chính sự chỉ dẫn và định hướng của tác giả trong việc nghiên cứu những bộ sách đồ sộ của Kinh Tạng Nikaya, sẽ chứng tỏ là một cẩm nang đáng tin cậy cho những ai đang học tập về Phật Giáo, nó sẽ giải toả cho họ khỏi hoàn cảnh phải tự mình dày công lặn lội với một lượng đáng kể những kinh văn Pali, và thay vào đó đạt được một tầm nhìn toàn diện và rõ ràng về cái tổng thể; và nó sẽ giúp họ liên hệ tới những phần chính yếu của giáo lý ở bất cứ khi nào mà gặp phải nhiều những điểm riêng biệt trong quá  trình học tập về sau.

Sau khi ấn bản Tiếng Đức đầu tiên ra đời vào năm 1906, thì phiên bản đầu tiên bằng Tiếng Anh đã được xuất bản vào năm 1907, cho đến nay đã là ấn bản thứ 11, bao gồm cả một phiên bản giản lược dành cho học sinh (Colombo, 1948, Y.M.B.A.) và một phiên bản tiếng Anh Mỹ (Santa Barbara, Cal., 1950, J. F. Rowny Press). Nó cũng được thêm vào trong cuốn Thánh Kinh Phật Giáo (Buddhist Bible) của tác giả Dwight Goddard, xuất bản tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Bên cạnh những phiên bản Tiếng Đức và Tiếng Anh, những bản dịch bằng Tiếng Pháp, Tiếng Ý, Tiếng Séc, Tiếng Phần Lan, Tiếng Nga, Tiếng Nhật, Tiếng Hindi, Tiếng Bengali, và Tiếng Sri Lanka đều đã được xuất bản. Nguyên gốc Tiếng Pali của những văn bản được dịch, đã được xuất bản với ký tự tiếng Sri Lanka (biên tập bởi tác giả, dưới tiêu đề Sacca- Sangaha, Colombo, 1914) và với mẫu tự Devanagari ở Ấn Độ

Ấn bản thứ 11 đã được sửa mới lại toàn diện. Bổ sung đã được thêm vào phần Giới Thiệu và ở những phần chú giải, và nhiều đoạn văn mới đã được viết thêm.

Nguồn:  Lời của Đức Phật – (Biên soạn, phiên dịch, và giải thích bởi Nyanatiloka)