Để được đăng kí kết hôn, nam nữ phải làm tờ khai đăng kí kết hôn tại cơ quan đăng kí kết hôn. Trên cơ sở đó, cơ quan đăng kí kết hôn tiến hành xác minh, nếu các bên nam nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì tổ chức đăng kí kết hôn cho nam nữ, ghi việc kết hôn vào sổ đăng kí kết hôn và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ. Kể từ ngày đăng kí kết hôn, các bên nam nữ phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật.
Nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không đăng kí kết hôn thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng (Xem thêm:. Chung sống như vợ chồng; Hôn nhân thực tế).
1. Phân tích Khái niệm kết hôn
Theo cách hiểu thông thường, kết hôn chỉ việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng. Trong đời sống hôn nhân và gia đình, việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng thường được hợp thức bằng các nghi lễ cưới hỏi. Nghi lễ này thực chất được tiến hành nhằm “thông báo” sự kiện hai bên nam nữ trở thành vợ chồng của nhau. Tùy thuộc vào phong tục, tập quán và tín ngưỡng mà người kết hôn sẽ chọn một nghi thức cưới phù hợp. Ví dụ, phổ biến người Việt Nam sẽ tổ chức lễ cưới truyền thống có sự chứng kiến của họ hàng, người thân, bạn bè của hai bên nam nữ và gia đình. Một số ít có thể tổ chức đồng thời cả nghi thức cưới truyền thống và nghi thức tôn giáo. Ví dụ việc tổ chức ,lễ cưới ở Nhà thờ hoặc Nhà chùa.
Như vậy, dưới góc độ xã hội, sự thừa nhận của người thân, cộng đồng đối với đôi nam nữ chỉ đơn thuần là việc chứng kiến hai bên đã tiến hành một nghi lễ cưới hỏi truyền thống hay tôn giáo. Đây cũng là “sự kiện” để hai bên nam nữ thông báo với họ hàng, người thân họ chính thức trở thành “vợ chồng” của nhau.
Kết hôn là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng. Vì thế, sự kiện kết hôn có ý nghĩa đặc biệt đối với đời sống hôn nhân và gia đình. Bởi vì hôn nhân chính là cơ sở để hình thành gia đình - tế bào của xã hội. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ hôn nhân bị chi phối bởi ý chí của giai cấp thống trị. Do đó, Nhà nước đã sử dụng pháp luật để điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, làm cho những quan hệ này phát sinh, thay đổi hay chấm dứt phù hợp với lợi ích của giai cấp đó. Vì vậy, cũng hình thành khái niệm kết hôn dưới góc độ pháp lý.
Dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là việc nam nữ lấy nhau thành vợ chồng được Nhà nước thừa nhận. Do vậy, để được Nhà nước thừa nhận, hai bên nam nữ khi xác lập quan hệ
Vợ chồng phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn. Cụ thể là, khi xác lập quan hệ vợ chồng, người kết hồn phải tuân thủ quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, kết hôn được hiểu là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn (Xem Điều 3 khoản 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, kết hôn được hiểu là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ vợ chồng.
Vì vậy, kết hôn dưới góc độ pháp lý luôn thỏa mãn 2 yếu tố sau:
+ Phải thể hiện ý chí của cả nam và nữ là mong muốn được kết hôn với nhau:
Quyền kết hôn là quyền gắn liền với nhân thân của mỗi cá nhân. Vì vậy, việc kết hôn trước hết phải thể hiện ý chí tự nguyện của người kết hôn. Đây cũng là cơ sở để đảm bảo cho. nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được tuân thủ. Do đó, khi kết hôn, người két hôn phải bày tỏ ý chí tự nguyện kết hôn trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo quy định của pháp luật hiện hành, cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn sẽ tiếp nhận tờ khai đăng ký kết hôn và giải quyết việc đăng ký kết hôn. Vì vậy, trong tờ khai đăng ký kết hôn và trước cơ quan đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ thể hiện rằng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau. Nam, nữ kết hôn là mong muốn được gắn bó với nhau trong quan hệ vợ chồng và cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Do đó, sự tự nguyện của nam nữ trong việc kết hôn vừa là điều kiện đảm bảo cho hôn nhân có giá trị pháp lý và đồng thời cũng là cơ sở xây dựng gia đình bền vững. Đối với những trường hợp khi tiến hành đăng ký kết hôn, phát hiện thấy có dấu hiệu của sự lừa dối, cưỡng ép kết hôn hoặc kết hôn giả tạo, cơ quan có thẩm quyền sẽ từ chối việc đăng ký kết hôn. Trường hợp, đã đăng ký kết hôn mà phát hiện thấy có các dấu hiệu vi phạm sự tự nguyện kết hôn thì việc kết hôn đó có thể bị xử hủy khi có yêu cầu.
Như vậy, sự thể hiện ý chí của người kết hôn luôn là một yếu tố cơ bản của việc kết hôn. Dưới góc độ pháp lý, sự thể hiện ý chí này phải là sự thể hiện ý chí về việc mong muốn trở thành vợ chồng trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Phải được Nhà nước thừa nhận
Hôn nhân chỉ được Nhà nước thừa nhận khi việc xác lập quan hệ hôn nhân tuân thủ các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Để việc kết hôn được phù họp với các quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký kết hôn sau khi nhận hồ sơ đăng ký kết hôn phải tiến hành điều tra, xác minh về những vấn đề mà các bên nam, nữ đã khai. Neu những điều mà các bên nam, nữ khai là đúng và phù hợp với các điều kiện kết hôn thì cơ quan đãng ký kết hôn tiến hành đăng ký việc kết hôn cho họ theo đúng nghi thức do pháp luật quy định. Như vậy, hai bên phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì Nhà nước mới có căn cứ để thừa nhận quan hệ hôn nhân. Kết hôn theo đúng quy định của pháp luật mới làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Khi kết hôn, hai bên nam, nữ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hồn. Pháp luật của Nhà nước ta quy định điều kiện kết hôn thể hiện tính khoa học và phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội, đồng thời cũng phù hợp với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước kiểm tra việc tuân thủ các điều kiện kết hôn và công nhận quan hệ vợ chồng bằng việc cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ. Vì thế, sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam, nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng.
Như vậy, sự kiện kết hôn là căn cứ làm phát sinh quan hệ giữa vợ và chồng, đồng thời sự kiện kết hôn còn là căn cứ có ý nghĩa cho việc xác định quan hệ giữa cha mẹ và con, quan hệ giữa các thành viên khác trong gia đình.
2. Phân tích khái niệm đăng ký kết hôn
Kết hôn là việc xác lập quan hệ vợ chồng theo các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Vì vậy, khi kết hôn, người kết hôn phải tuân thủ các quy định về điều kiện kết hôn và phải thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện. Như vậy, đăng ký kết hôn là một nghi thức xác lập quan hệ hôn nhân được Nhà nước thừa nhận. Để hôn nhân có giá trị pháp lý thì người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về đăng ký kết hôn.
Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015 cũng quy định, quyền kết hôn là một quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình của cá nhân. Cá nhân thực hiện quyền kết hôn theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình và luật khác có liên quan. Theo đó, muốn trở thành vợ chồng, nam nữ phải thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Khi cơ quan đăng ký kết hôn tiến hành đăng ký kết hôn, ghi vào sổ hộ tịch và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho họ thì giữa hai bên mới phát sinh quan hệ vợ chồng.
Theo quy định của Luật Hộ tịch năm 2014 thì thẩm quyền đăng ký kết hôn được quy định cụ thể như sau: ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên nam nữ thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở trong nước. Cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài thực hiện việc đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau ở nước ngoài. Đối với việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thì việc đăng ký kết hôn thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi thường trú của công dân Việt Nam nếu việc đăng ký kết hôn diễn ra trước cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam.
Về nghi thức, thủ tục đăng ký kết hôn, dù việc đăng ký kết hôn thuộc thẩm quyền của cơ quan nào thì vẫn phải tiến hành đúng theo các nghi thức, thủ tục mà pháp luật quy định. Theo đó, người kết hôn phải nộp hồ sơ xin đăng ký kết hôn, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và kiểm tra các điều kiện kết hôn trên cơ sở lời khai của người kết hôn. Nếu xét thấy họ đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền mới tiến hành đăng ký kết hôn cho hai bên nam nữ, ghi việc kết hôn vào sổ hộ tịch và trao Giấy chứng nhận kết hôn cho họ. Trường hợp không đủ điều kiện kết hôn, cơ quan có thẩm quyền từ chối việc đăng ký kết hôn và giải thích rõ bằng văn bản.
Như vậy, việc đăng ký kết hôn có ý nghĩa quan trọng. Bởi vì thông qua việc đăng ký kết hôn, giúp Nhà nước kiểm soát được việc tuân thủ pháp luật về điều kiện kết hôn, theo dõi được những biển động và thực trạng của việc đăng ký kết hôn. Bên cạnh đó, việc đăng ký kết hôn còn giúp Nhà nước phát hiện và ngăn chặn kịp thời việc vi phạm các điều kiện kết hôn. Đăng ký kết hôn còn có ý nghĩa thiết thực đối với bản thân người kết hôn bởi vì Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lý xác định giữa hai bên nam nữ tồn tại quan hệ vợ chồng, Vì thế, đăng ký kết hôn là cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích của người kết hôn.
Việc kết hôn phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì mới có giá trị pháp lý, giữa hai bên nam nữ mới phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Như vậy, những trường hợp các bên nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn sẽ không được thừa nhận là vợ chồng: Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng (Khoản 1 Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng đối với trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thì áp dụng pháp luật tại thời điểm quan hệ được xác lập để giải quyết. Vì thế, đối với các trường hợp này theo quy định tại Điều 131 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chúng ta căn cứ vào Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật này để giải quyết.
3. Điều kiện kết hôn
Theo khoản 13 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân. Đồng thời, quan hệ vợ chồng chỉ được xác lập khi hai bên đăng ký kết hôn.
Theo đó, khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải đáp ứng một số điều kiện nêu tại Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 như:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do hai bên tự nguyện quyết định;
- Hai bên không bị mất năng lực hành vi dân sự;
- Không thuộc các trường hợp bị cấm kết hôn như: Kết hôn giả tạo; tảo hôn; cưỡng ép kết hôn; đang có vợ hoặc chồng mà kết hôn với người khác, kết hôn trong phạm vi 3 đời…
4. Hồ sơ tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn
Kết hôn trong nước
Theo Điều 10 Nghị định 123/2015/NĐ-CP, khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ cần chuẩn bị các giấy tờ sau:
- Tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu;
- Chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thẻ Căn cước công dân hoặc giấy tờ khác có dán ảnh. Lưu ý, những loại giấy tờ này đều phải đang còn thời hạn sử dụng;
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân do UBND cấp xã nơi cư trú cấp.
- Quyết định hoặc bản án ly hôn của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu trước đó đã từng kết hôn và ly hôn.
* Kết hôn có yếu tố nước ngoài
Nếu việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thì căn cứ theo Điều 30 Nghị định 123/2015, hồ sơ cần chuẩn bị gồm:
- Tờ khai đăng ký kết hôn (theo mẫu);
- Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân còn giá trị sử dụng, do cơ quan có thẩm quyền nước ngoài cấp thể hiện nội dung: Hiện tại người nước ngoài này không có vợ/có chồng. Nếu nước đó không cấp thì thay bằng giấy tờ khác xác định người này đủ điều kiện đăng ký kết hôn.
- Giấy xác nhận không mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác, có đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình (do cơ quan y tế của thẩm quyền của Việt Nam hoặc nước ngoài xác nhận).
- Hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay hộ chiếu (bản sao).
5. Thẩm quyền tiến hành thủ tục đăng ký kết hôn
Theo quy định tại khoản 1 Điều 17 Luật Hộ tịch 2014, sau khi chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ nêu trên, các cặp đôi cần đến UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú của một trong hai bên để đăng ký kết hôn.
Ngoài ra, theo quy định tại Điều 37 Luật Hộ tịch năm 2014, trong những trường hợp sau đây, nơi thực hiện việc đăng ký kết hôn cho các cặp nam, nữ là UBND cấp huyện:
- Công dân Việt Nam với người nước ngoài;
- Công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
- Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau;
- Công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài.
Riêng hai người nước ngoài khi có nhu cầu đăng ký kết hôn tại Việt Nam thì đến UBND cấp huyện nơi cư trú của một trong hai bên để thực hiện việc đăng ký kết hôn (Căn cứ khoản 1 Điều 37 Luật Hộ tịch).
Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến hôn nhân gia đình, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm của Luật Minh Khuê luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp.
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê