1. Đánh lô đề có được coi là đánh bạc không ?

Chào luật sư, tôi có một vấn đề cần tư vấn như sau: Em gái tôi có đánh đề, số tiền thắng là số tiền là 2,8 triệu và số tiền thưởng là 2,8 triệu. Gần đây chủ ghi lô đề có bị bắt và công an có tra được gia những người đánh đề hôm đó và có em gái tôi.
Bây giờ tôi muốn hỏi là đánh lô đề như vậy có được coi là đánh bạc không? Và số tiền xác định đánh đề có bao gồm tiền trúng đề không ?
Tôi xin cảm ơn.

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Đánh lô đề có được coi là đánh bạc không ?

Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, Có quy định về tội đánh bạc như sau:

Điều 321. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Theo nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP, có hướng dẫn về việc đánh bạc, “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp. Theo đó có thể nói rằng, việc đánh lô đề là một hình thức đánh bạc. Như vậy, nếu giá trị đánh đề đạt đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì em gái chị có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc.

2. Các xác định tổng giá trị dùng để đánh bạc đối với người chơi lô đề ?

Theo nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn cách xác định tổng giá trị đánh đề như sau:

- Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của người chơi đề, cá độ dùng đánh bạc:

+ Trường hợp người chơi số đề, cá độ có trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ cộng với số tiền thực tế mà họ được nhận từ chủ đề, chủ cá độ.Ví dụ: B mua 5 số đề với tổng số tiền là 100.000 đồng, tỷ lệ được thua 1/70 lần, trong đó có 4 số đề mua mỗi số 10.000 đồng, 1 số đề mua với số tiền 60.000 đồng, hành vi của B bị phát hiện sau khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa... và B đã trúng số đề mua với số tiền 60.000 đồng thì số tiền B dùng đánh bạc trong trường hợp này là 100.000 đồng + (60.000 đồng × 70 lần) = 4.300.000 đồng.

+ Trường hợp người chơi số đề, cá độ không trúng số đề, không thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng thì số tiền mà họ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà họ đã bỏ ra để mua số đề, cá độ.

- Xác định số tiền hoặc giá trị hiện vật của chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc:

+ Trường hợp có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là toàn bộ số tiền thực tế mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ và số tiền mà chủ đề, chủ cá độ phải bỏ ra để trả cho người trúng (có thể là một hoặc nhiều người). Ví dụ: D là chủ đề của 5 người chơi số đề khác nhau, mỗi người chơi một số đề với số tiền là 50.000 đồng (tổng cộng là 250.000 đồng); tỷ lệ được thua là 1/70 lần và có 2 người đã trúng số đề thì số tiền D dùng để đánh bạc trong trường hợp này là 250.000 đồng + (50.000 đồng × 70 lần × 2 người) = 7.250.000 đồng.

+ Trường hợp không có người chơi số đề, cá độ trúng số đề, thắng cược cá độ hoặc bị phát hiện, ngăn chặn trước khi có kết quả mở thưởng, kết quả bóng đá, kết quả đua ngựa... thì số tiền chủ đề, chủ cá độ dùng đánh bạc là tổng số tiền mà chủ đề, chủ cá độ đã nhận của những người chơi số đề, cá độ.

Như vậy, trong trường hợp của em gái bạn, thì tổng số tiền đánh bạc để chịu trách nhiệm hình sự là tổng số tiền em gái chị mua đề và số tiền trúng đề của em gái chị. Vi vậy, tổng số tiền đánh bạc của em gái chị là 5,6 triệu. Với số tiền này theo khoản 1 Điêu 321 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì em gái thể có thểchịu phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi, nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Kỷ Luật Đảng viên tham gia đánh bạc ? Quy định truy nã tội đánh bạc

2. Tư vấn về mức xử phạt hành vi ghi lô đề ?

Xin hỏi luật sư ,bố tôi năm nay 45 tuổi có tham gia ghi đề cho 1 chủ đề nhưng chỉ làm ăn nhỏ .nhà chủ đề kia bị công an bắt giữ về việc ghi lô đề trái phép , theo trên giấy tờ xác minh của cơ quan công an thì số tiền ghi nhà tôi là 2 triệu đồng. Gia đình tôi có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự có nghề nghiệp và nơi cư trú ổn định ghi đề chỉ là làm thêm . cha mẹ tôi phải nuôi 2 chị em học đại học và một e đang học tiểu học.
Hiện tại bố tôi đang bị tạm giữ -xin dc hỏi như thế khung hình phạt mà bố tôi phải chịu như thế nào ?
Mong luật sư giúp đỡ!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Luật sư tư vấn:

Hành vi ghi lô đề là một trong những hành vi thuộc hình thức đánh bạc.

Căn cứ theo điều 248 Bộ Luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 (văn bản mới: Bộ luật hình sự năm 2015)

Điều 248. Tội đánh bạc

1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng.”

Như vậy, theo thông tin bạn cung cấp, hành vi của bố bạn sẽ bị cơ quan chức năng xử phạt hành chính từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, ngoài ra nếu có thêm tình tiết tăng nặng và mức độ nguy hiểm cho xã hội thì bố bạn sẽ bị xử phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoăc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Tuy nhiên, theo bạn nói bố bạn có thân nhân tốt và chưa từng phạm tội thì hình phạt sẽ được giảm nhẹ căn cứ theo khoản 1 điều 60 Bộ Luật Hình sự 1999

"Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm."

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.0159 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Tội đánh bạc bị tạm giam có được tại ngoại hay không? Có được hưởng án treo không ?

3. Xử phạt đối với hành vi ghi lô, đề trái phép ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê. Tôi có một vấn đề thắc mắc mong được công ty giải quyết giúp tôi như sau. Vấn đề của tôi là như sau: Tôi có một bà chị mới tổ chức ghi lô, đề mới thực hiện ghi được 2 ngày thì bị công an phường ập vào bắt quả tang. Đến ngày hôm sau công an phường đã mang tất cả hồ sơ, giấy tờ mang lên trên công an Quận để giải quyết và số tiền công an thu giữ được là 12 triệu đồng.
Vậy cho tôi hỏi với hành vi và số tiền như vậy thì chị của tôi sẽ bị xử lý như thế nào?
Rất mong công ty có thể giải quyết sớm giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Người gửi: H.K.A

Đánh lô đề có được coi là đánh bạc không ?

Luật sư tư vấn Luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.0159

Trả lời:

Đối với câu hỏi của bạn, công ty Luật Minh Khuê xin hỗ trợ bạn trả lời như sau:

Đối với hành vi của chị bạn thì chị bạn có thể bị xử lý một trong hai hình thức sau đây.

Thứ nhất xử phạt hành chính và sẽ căn cứ vào khoản 5, khoản 6 điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội;phòng cháy chữa cháy,phòng,chống bạo lực gia đình quy định như sau:

" 5. Phạt tin t 10.000.000 đng đến 20.000.000 đng đi vi mt trong nhng hành vi t chc đánh đ sau đây:

a) Làm chủ lô, đề;

b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;

c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;

d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này."

Như vậy theo thông tin mà bạn cung cấp thì chị bạn rơi vào điểm a khoản 5 điều 26 Nghị định 167/2013 và sẽ bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng và sẽ chịu thêm hình phạt bổ sung là tịch thu toàn bộ phương tiện sử dụng vào việc ghi lô, đề và toàn bộ số tiền 12 triệu đồng.

Thứ hai là xử lý hình sự theo quy định tại điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định như sau:

" Điều 249. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Như vậy trong trường hợp này bạn có thể bị xử lý 1 trong 2 hình thức như trên.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thẩm quyền xử phạt của trưởng công an xã đối với hành vi đánh bạc trái phép ?

4. Xử phạt chủ ghi lô đề, cá cược bóng đá ?

Thưa Luật sư! Xin luật sư cho tôi hỏi: Tôi có người nhà cụ thể là cả hai vợ chồng anh chị tôi đều tham gia làm đại lý hay nói chính xác thì họ là chủ ghi lô đề, và cá cược bóng đá qua mạng đã 13 năm nay, nhưng chuyện đáng buồn nhất là gia đình tôi vốn đã không ai đồng ý việc làm này của họ.
Nhưng mà ngay đến pháp luật nơi họ cư chú cũng có thể làm ngơ thì lạ thật rồi, nơi anh chị tôi ở là một phường của quận nội thành Hà Nội mà họ có thể tồn tại được từng đó thời gian thì hẳn là họ phải có mối quan hệ rất rộng lớn rồi, mỗi khi có mùa bóng đến hay bình thường thôi mỗi buổi tối họ thu về bao nhiêu tiền từ việc cá cược và ghi lô đề này, giờ họ đã rất giàu rồi nhà cửa vài cái, con cái đi du học. Họ còn lôi kéo thêm họ hàng anh em vào cuộc nũa. Nếu như bị phát hiện họ sẽ bị xử lý thế nào? có bị tịch thu tài sản không, bị phạt bao nhiêu năm tù?
Xin tư vấn giúp tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự gọi: 1900.0159

Trả lời:

Đối với trường hợp này nếu bị phát hiện cần phải có cần phải có kết quả điều tra, xác minh để biết rằng hành vi của anh chị bạn đã cấu thành tội phạm hay chưa? Do đó cần chia thành hai trường hợp như sau:

- Trường hợp 1: hành vi của anh chị bạn mới chỉ vi phạm hành chính thì mức độ xử phạt được quy định tại khoản 4, khoản 5 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

"Điều 26. Hành vi đánh bạc trái phép
...
4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh bạc sau đây:
a) Rủ rê, lôi kéo, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép;
b) Dùng nhà, chỗ ở của mình hoặc phương tiện, địa điểm khác để chứa bạc;
c) Đặt máy đánh bạc, trò chơi điện tử trái phép;
d) Tổ chức hoạt động cá cược ăn tiền trái phép.
5. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi tổ chức đánh đề sau đây:
a) Làm chủ lô, đề;
b) Tổ chức sản xuất, phát hành bảng đề, ấn phẩm khác cho việc đánh lô, đề;
c) Tổ chức mạng lưới bán số lô, số đề;
d) Tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền.
6. Hình thức xử phạt bổ sung:
Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có đối với hành vi quy định tại Khoản 1; Khoản 2; Điểm a Khoản 3; Điểm b, c, d Khoản 4 và Khoản 5 Điều này
..."

- Trường hợp 2: Nếu hành vi đó của anh chị bạn đã đầy đủ dấu hiệu để cấu thành tội phạm thì trường hợp này áp dụng quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 như sau:

"Điều 249. Tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc

1. Người nào tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc trái phép với quy mô lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này và Điều 248 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến ba trăm triệu đồng hoặc phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Thu lợi bất chính lớn, rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

Khi bị xử lý theo quy định này của bộ luật hình sự thì người phạm tội ngoài việc thi hành án phạt tù theo quy định tại khoản 1 hoặc khoản 2 Điều 249 thì còn có thể phải thi hành án phạt tiền, tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Chơi game bài online với số tiền nạp thẻ lớn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đánh bạc ?

5. Trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bài được quy định như thế nào ?

Thưa luật sư: Bố em bị bắt bạc, 7 người chơi với tổng số tiền trên bàn bạc là 7800000 vậy xin hỏi luật sư bố em sẽ bị xử ra sao ,khung hình phạt thế nào? Có được hưởng án treo không ?
Em xin chân thành cảm ơn !

Trách nhiệm hình sự đối với tội đánh bài được quy định như thế nào ?

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến. gọi: 1900.0159

Trả lời:

Để xác định khung hình phạt cho bố bạn trong trường hợp này, cần căn cứ theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009 để giải quyết.

Căn cứ Điều Điều 248 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009.

"Điều 248. Tội đánh bạc

  1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 249 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

    a) Có tính chất chuyên nghiệp;

    b) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ năm mươi triệu đồng trở lên;

    c) Tái phạm nguy hiểm.

  3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu đồng".

Theo đó, với mức tiền thu được tại chiếu bạc bố bạn sẽ bị xử lý theo quy định tại Khoản 1 Điều 248 trên, khung hình phạt sẽ là bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

Vậy, với khung hình phạt trên, liệu có được hưởng án treo hay không? cần xem xét tới điều kiện để hưởng án treo theo quy định của Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

"Điều 60. Án treo

  1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
  2. Trong thời gian thử thách, Tòa án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
  3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định được quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.
  4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Tòa án có thể rút ngắn thời gian thử thách.
  5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Tòa án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này".

Ngoài ra, điều kiện hưởng sẽ được hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ Luật hình sự về án treo do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành.:

"Điều 2. Việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự;

b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.

Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:

b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;

b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;

b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;

c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự.

Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự năm 1999”;

đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.

2. Không cho hưởng án treo nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị quy định tại khoản 2 Điều 3 của Bộ luật hình sự bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;

c) Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;

d) Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã.

3. Khi xem xét, quyết định cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, cần lưu ý:

a) Đối với trường hợp người bị xử phạt tù đã bị tạm giữ, tạm giam thì chỉ cho hưởng án treo khi thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam ngắn hơn thời hạn phạt tù;

b) Những trường hợp người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nếu có đủ điều kiện để áp dụngĐiều 47 của Bộ luật hình sự thì cũng phải xử trong khung hình phạt liền kề là đã thể hiện chính sách khoan hồng đối với họ; không được xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với các tội phạm mà dư luận xã hội lên án, đặc biệt là các tội phạm về chức vụ, để phục vụ đắc lực cho công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tham nhũng nói riêng;

c) Những trường hợp có tình tiết định khung tăng nặng, nếu Viện kiểm sát không truy tố cũng phải áp dụng để xét xử đúng quy định của pháp luật; nếu còn có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự cũng phải được áp dụng đầy đủ; không được vì muốn cho hưởng án treo mà không áp dụng đầy đủ các tình tiết định khung tăng nặng và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 48 của Bộ luật hình sự;

d) Khi quyết định hình phạt phải tuân thủ nguyên tắc xử lý quy định tại Điều 3 của Bộ luật hình sựkết hợp với các căn cứ quyết định hình phạt quy định tại Điều 45 của Bộ luật hình sự; không được cho rằng án treo là một loại hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù để tăng hình phạt lên cao hơn các trường hợp khác không có căn cứ và cho hưởng án treo; không được tùy tiện giảm mức hình phạt tù không có căn cứ để đủ điều kiện về mức hình phạt tù quy định tại Điều 60 của Bộ luật hình sựvà cho hưởng án treo".

Dựa trên điều kiện này, nếu bạn xem xét tình hình của bố bạn là phù hợp thì Tòa án có thể cho bố bạn hưởng án treo theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.0159 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật Hình sự - Công ty luật inh Khuê

>> Xem thêm:  Tội đánh bạc thì phải bị tạm giam bao lâu ? Chịu trách nhiệm hình sự ra sao?