1. Đất chưa có sổ đỏ chia thừa kế như thế nào ?

Thưa luật sư Xin hỏi Quí đơn vị tư vấn pháp luật nội dung như sau: Ông Nội tôi có tám người con, trong đó Bố tôi là con trai là người thứ 6, hiện tại còn sống là người thứ 3 (con gái), người thứ 5 (con trai), người thứ 9 (con trai Út). Bố tôi mất năm 2004.

Hiện tại tôi đang sống trên phần đất của Ông Nội tôi đề lại cho Bố tôi (tôi là con trai Út), nhưng phần đất này hiện tại không có giấy quyền sử dụng đất. Do hồi đó ông Ông Nội tôi đứng tên quyền sử dụng, khi Ông qua đời Chú Út tôi tự làm giấy và chuyển toàn bộ phần đất của Ông nội đứng tên sang cho Chú Út tôi đứng tên, việc sang tên đó Bố tôi không hay biết.

Sau này tôi cất nhà chuẩn bị lập gia đình cho tôi thì Bố tôi có gặp Chú Út tôi để xin sang phần đất để làm thủ tục xây dựng nhà cho đúng qui định Pháp luật nhưng Chú Út tôi không đồng ý. Vì công việc gấp tôi vẫn xây dựng (nhà cấp VI vùng nông thôn nên cũng dễ dàng). Sau nhiều lần tôi cùng mẹ tôi và người Bác thức 5 có gặp Chú Út tôi để bàn bạc chuyển phần đất tôi đang ở hiện tại để tôi được đứng tên. Nhưng Chú Út tôi do dự không đồng ý.
Rất mong Quí đơn vị tư vấn pháp luật giúp tôi làm cách nào tôi có phần đất đang ở là quyền sử dụng của mình.
Đơn vị tư vấn cần thêm những nội dung gì nữa cho tôi biết để tôi tìm hiểu và cung cấp thêm. Xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: toai trinh quang

Trả lời:

1. Thời hiệu khởi kiện chia thừa kế:

Theo quy định tại Điều 623 Bộ Luật dân sự 2015 thì thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau: Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu ; Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

2. Tài sản chung của hộ gia đình ?

Căn cứ theo Điểm 2.4 Điều 2 Mục I Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/08/2004 “Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình” về trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

“Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết…”

Bạn không trình bày thời điểm ông bạn mất, chỉ nêu bố bạn mất năm 2004, tôi hiểu rằng ông bạn mất trước đó. Mà thời hiệu khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản. Vì vậy trường hợp của bạn nếu như chưa đến 30 năm thì bạn hoàn toàn có thể yêu cầu chia di sản thừa kế theo đúng quy định của Pháp Luật.

Tuy nhiên, trường hợp hết thời hiệu khởi kiện chia di sản thừa kế nêu trên nhưng nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định tại Nghị quyết 02 thì di sản đó sẽ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Nếu các đồng thừa kế di sản của ông nội bạn không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do ông bạn để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Bạn cùng các đồng thừa kế di sản của ông nội bạn có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án chia tài sản chung.

Sau khi Tòa án thụ lí, giải quyết việc chia tài sản chung, nếu phần đất bạn đang ở được chia cho nhiều người, bạn có thể thanh toán cho những người còn lại phần giá trị mà họ được hưởng để có quyền sử dụng toàn bộ phần đất.

Trân trọng./.

>> Tham khảo dịch vụ: Dịch vụ soạn thảo và công chứng hợp đồng

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Cách chia di sản thừa kế đất đai khi mẹ mất ?

Thưa Luật Sư! Em có một người bạn cùng trường gặp vấn đề về việc tranh chấp đất đai ở quê. Vì điều kiện gia đình bạn khó khăn tạm thời chưa mời được Luật Sư riêng nên em muốn nhờ Luật Sư tư vấn giúp đỡ. Bạn em tên H, sinh năm 1997.Mẹ H mất cách đây khoảng 5 năm, gia đình còn bố, H, và 4 em nhỏ, bố không có đủ minh mẫn giải quyết việc gia đình. Ông nội H trước kia có 2 người vợ, có 1 bác gái là con bà cả, bố H là con bà hai.

Trước khi bà nội H mất, bác của H(đã lấy chồng) quay về đòi chia đất, không muốn phiền phức nên bà nội H đã chia cho bác này nửa số đất có, bà này đã đem số đất đó đi bán. Phần còn lại làm sổ đỏ và đứng tên mẹ H. Sau Khi mẹ H mất, sổ đỏ chưa được làm lại, và không hiểu sao bà bác kia có được trong tay 1 bản sao sổ đỏ của nhà H. Từ đầu năm 2016, bà này về nhà H tiếp tục đòi chia đất và đe dọa tìm mọi cách bắt chị em H nghỉ học, tìm mọi cách để được chia đất. Vì bố H không đủ minh mẫn nên H quyết định đem sổ đỏ đi làm lại, đứng tên H, tuy nhiên chính quyền địa không giải quyết vì nói đang trong thời gian tranh chấp. Vậy Luật Sư cho em hỏi:

- Nếu ra tòa thì gia đình H có thắng kiện không? khi trong tay bà ta đang có bản sao sổ đỏ và bà này có rất nhiều mối quan hệ, quyền lực.

- Việc chính quyền không giải quyết cho H làm lại sổ đỏ là đúng hay sai? H nên làm gì để giải quyết việc này.

Em mong nhận được lời giải đáp trong thời gian sớm nhất! Em xin trân trọng cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Câu hỏi 1: Đối với câu hỏi việc giải quyết tranh chấp tại tòa thì việc bà H có bản sao sổ đỏ thì H có thắng kiện không ?

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà H, nên việc bác của H có bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó cũng không làm thay đổi chủ mảnh đất đó được. Bà H đứng tên trên mảnh đất đó mà bà H chết không có di chúc thì mảnh đất đó là di sản thừa kế chia theo pháp luật cho những người thừa kế.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vây, dựa theo pháp luật dân sự, nhận thấy hàng thừa kế thứ nhất bao gồm người chồng, H và 4 em nhỏ.Và người bác của H không thuộc hàng thừa kế này, bác chỉ có bản sao giấy chứng nhận QSDĐ thì cũng không xác lập được quyền sở hữu.

Câu hỏi 2: Việc chính quyền không giải quyết cho H làm lại sổ đỏ là đúng hay sai? H nên làm gì để giải quyết việc này.

Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Luật Đất Đai năm 2013)

1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;

b) Đất không có tranh chấp;

c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;

d) Trong thời hạn sử dụng đất.

2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.

3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính.

Như vậy, UBND cấp xã phường ko cho H sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất là đúng, vì bác H đang đòi chia đất thuộc trường hợp tranh chấp đất đai giữa cá nhân với cá nhân.

H muốn tiến hành thực hiện sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang tên mình thì sẽ chuẩn bị hồ sơ khai nhận di sản thừa kế, sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như một trong giấy tờ để bổ sung trong hồ sơ khởi kiện như sau:

+ Văn bản khai nhận di sản thừa kế được thực hiện tại văn phòng công chứng hoặc UBND cấp xã/phường nơi có bất động sản.

+ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản gốc

+ Giấy chứng tử của mẹ H

+ Bản sao giấy khai sinh của những người đồng thừa kế

Sau đó, những người đồng thừa kế sẽ ủy quyền cho H đứng ra tiến hành sang tên chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người mẹ sang H và những người sở hữu còn lại tại Phòng tài nguyên môi trường cấp quận/huyện nơi có đất.

Hướng giải quyết: Để giải quyết vấn đề tranh chấp nêu trên, H sẽ tiến hành gửi đơn lên tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp khi UBND cấp xã phường không giải quyết.

Điều 203. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai ( Luật đất đai năm 2013)

Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;

3. Trường hợp đương sự lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền thì việc giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp tranh chấp giữa hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư với nhau thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

b) Trường hợp tranh chấp mà một bên tranh chấp là tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết; nếu không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường hoặc khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của pháp luật về tố tụng hành chính;

4. Người có thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai tại khoản 3 Điều này phải ra quyết định giải quyết tranh chấp. Quyết định giải quyết tranh chấp có hiệu lực thi hành phải được các bên tranh chấp nghiêm chỉnh chấp hành. Trường hợp các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế thi hành.

Như vậy, chỉ cần H có đầy đủ giấy tờ nêu trên thì hoàn toàn thắng vụ kiện này.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn quyền thừa kế đất đai từ ông bà đã mất ?

Chào luật sư. Luật sư có thể giải đáp một số thắc mắc luật kế thừa đất đai trong gia đình. Gia đình Ông Bà Nội có mảnh đất 1.200m3. Gia đình có 4 người con gồm 2 trai, 2 gái, trong đó Ba tôi , chú, và cô út có gia đình. Cô cả không lấy chồng và ở với Ông Bà nội. Ông Nội mất năm 1997 không để lại di chúc, Bà mất năm 2008 cũng không để lại di chúc. Sau khi Bà mất thì Cô tôi được làm chủ hộ.

Trong thời gian bà còn sống chú tôi làm ăn thất bát đã bán hết đất đai gia cư có sẵn mà trước kia nhà nước cấp. Thấy tình cảnh thế Bà tôi cho Chú tôi dựng nhà kế bên ở tạm. Trong thời gian ở bà và cô đã làm giấy tờ tay bán 10m(ngang 10, dài 40) đất cho chú nhưng chưa trả tiền đủ. Năm 2013 chú tôi mất mà tiền đó vẫn còn thiếu. Cách đây một tháng tôi và thím tôi đem giấy tờ xuống nhà nói Ba tôi ký để đất đó hợp lệ xây nhà. Ba tôi không đồng ý ký vì lúc bán đất Ba tôi không biết, ba tôi chỉ biết là cho chú tôi ở nhờ. Với lại một lý do nữa thím tôi xây chuồng nuôi lợn sát kề giếng nước nhà tôi làm nghề bún 14 năm nay. Nay gia đình tôi bức xúc nên muốn hỏi luật sư một số vấn đề:

1. Đất ông bà nội để lại thì có phải cô tôi (không có chồng) toàn quyền không, giờ Cô là chủ hộ ?

2. Đất bà và cô tôi bán cho chú tôi mà Ba tôi không biết, giờ có hợp lệ là của Thím tôi không ?. Đất này chưa trừ hết tiền nên chưa có sổ đỏ ?

3. Gia đình tôi có quyền yêu cầu chia tài sản đó không, nếu chia thì đất bán cho chú tôi sẽ được tính thế nào ?

4. Thìm tôi làm chuồng nuôi lợn sát kề giếng nhà tôi làm ảnh hưởng tới việc làm ăn và thu nhập cho con cái học thì gia đình tôi có thể kiện không ?

Cám ơn luật sư tư vấn, rất mong nhận được sự giải đáp.

Người gửi : C.N

Đất chưa có sổ đỏ chia thừa kế như thế nào?

Trả lời:

Dựa trên thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi. Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Thứ nhất, Do ông bà bạn mất và mảnh đất để lại mang tên ông bà bạn không để lại di chúc nên phần đất đai thừa kế này sẽ được chia theo pháp luật , cô bạn sẽ không có quyền sử dụng đối với mảnh đất này.Những người thừa kế theo pháp luật được quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự năm 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật
1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy, Ông bà bạn có 4 người con và 4 người này sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất khi chia di sản thừa kế theo pháp luật.

Thứ hai, Trong thời gian bà bạn còn sống chú bạn làm ăn thất bát đã bán hết đất đai gia cư có sẵn mà trước kia nhà nước cấp. Thấy tình cảnh thế bà bạn cho chú bạn dựng nhà kế bên ở tạm. Trong thời gian ở bà và cô đã làm giấy tờ tay bán 10m (ngang 10, dài 40) đất cho chú nhưng chưa trả tiền đủ. Năm 2013 chú bạn mất mà tiền đó vẫn còn thiếu. Cách đây một tháng bạn và Thím bạn đem giấy tờ xuống nhà nói Ba bạn ký để đất đó hợp lệ xây nhà. Ba bạn không đồng ý ký vì lúc bán đất Ba bạn không biết, Ba bạn chỉ biết là cho chú bạn ở nhờ. Và đất này chưa có sổ đỏ. Trong trường hợp này, bà bạn và cô đã viết giấy tay giấy bán đất cho chú bạn và cũng đã hình thành nên hợp đồng mua bán bất động sản. Theo Điều 167 khoản 3 luật đất đai 2013 quy định về vấn đề điều kiện của giao dịch mua bán đất như sau:

" Điều 167. Quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất

3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:

a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;

b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;

c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;

d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Như vậy, theo quy định trên thì để có hiệu lực pháp luật thì việc mua bán đất của bà bạn và chú sẽ phải được cơ quan có thẩm quyền công chứng, chứng thực vào hợp đồng viết tay này. Nhưng bạn chưa cung cấp rõ rằng giấy viết tay đã được công chứng chứng thực hay chưa để bảo vệ quyền lợi cho thím bạn. Nếu đã được công chứng chứng thực thì hợp đồng mua bán này đã có hiệu lực không cần thỏa mãn đã trả đủ tiền hay chưa, sẽ là hợp lệ của thím bạn.Ngược lại, việc mua nhà của chú bạn chỉ có giấy viết tay mà không công chứng chứng thực là trái với quy định của pháp luật do không tuân thủ về mặt hình thức. Do đó khi có tranh chấp thì hợp đồng sẽ bị tuyên vô hiệu do không tuân thủ về mặt hình thức. Theo quy định tại Điều 137 về hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên sẽ phải hoàn trả nhau những gì đã nhận: Bên mua trả lại nhà, bên bán trả lại tiền nhà đã nhận. Bên nào có lỗi trong việc làm cho hợp đồng bị vô hiệu sẽ phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.Mặt khác, gia đình bạn không có quyền chia phần di sản này mà cần phải có sự thống nhất và nhất trí của 2 người còn lại và người thím ( vợ của chú đã mất )

Thứ ba, Thím bạn có xây chuồng nuôi lợn sát kề giếng nước nhà bạn làm nghề bún 14 năm nay, làm ảnh hưởng tới việc làm ăn và thu nhập cho con cái học. Bạn chưa cung cấp thêm thông tin rằng thím bạn khi xây chuồng lợn đã đạt tiêu chuẩn môi trường chưa , đã có các biện pháp xử lý chất thải ra bên ngoài môi trường chưa. Nếu không thỏa mãn những yếu tố trên thì gia đình bạn có quyền đòi bồi thường theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 về Bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường quy định :" Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi." Do đó, gia đình bạn có quyền Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về môi trường theo Điều 162 Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"1. Tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

2. Cá nhân có quyền tố cáo vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố cáo.

3. Thời hiệu khởi kiện về môi trường được tính từ thời điểm tổ chức, cá nhân bị thiệt hại phát hiện được thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường của tổ chức, cá nhân khác."

TTrường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tư vấn chia thừa kế đất đai ?

Xin chào luật sư! Tôi có thắc mắc một số điều kính nhờ luật sư tư vấn giúp. Ông bà nội tôi có 5 người con: bác 2, bác 4, cha tôi là con thứ 7 (trai út), cô 8, cô 9. Hai bác: bác 2 va bác 4 đã được ông nội bà nội chia phần đất đai đã lâu rồi, còn lại cha tôi do ở chung nhà với ông nội bà nội nên chưa chia.

Đến khi bà nội mất( 6 năm) thì ông nội có sang nhượng lại toàn bộ đất đai do ông nội đứng tên lại cho cha tôi nay đã được 3 năm ( hiện tại ông nội vẫn ở chung voi gia dinh cha me tôi) . Thời gian: tháng 5/2015 cha tôi có bán đất cho người khác và giấy tờ sổ đỏ đã sang nhựơng xong thi 2 bà cô 8,cô 9 lại làm đơn thưa cha tôi để chia lại đất. vậy cho tôi hỏi 2 bà cô của tôi có thưa được cha tôi không ạ? Và có ảnh hưởng gì với 5 công đất còn lai không?

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người gửi: H.H

Quy định về quyền thừa kế đất đai ?

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự về thừa kế tài sản: 1900.6162

Trả lời:

Khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định như sau:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.”

Theo đó, nếu mảnh đất mà ông bạn sang tên cho bố bạn là tài sản có trong thời kỳ hôn nhân giữa ông và bà nội của bạn mà không phải do ông được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng thì đó là tài sản chung của ông bà nội của bạn. Khi đó, việc ông bạn sang tên hết mảnh đất đó cho bố bạn là không đúng bởi theo quy định tại Bộ luật dân sự năm 2015 thì cả ông và bà đều có một nửa quyền sở hữu đối với mảnh đất đó.

Do bà bạn đã mất nên một nửa quyền sở hữu đối với mảnh đất đó sẽ trở thành di sản và sẽ được phân chia theo di chúc trong trường hợp bà của bạn có để lại di chúc hoặc phân chia theo quy định của pháp luật trong trường hợp bà của bạn không để lại di chúc.

Điều 676 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau:

“Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”

Theo đó, trong trường hợp bà của bạn không để lại di chúc thì phần di sản mà bà bạn để lại sẽ được chia đều thành 6 phần cho ông của bạn, bác 2, bác 4, bố của bạn, cô 8 và cô 9. Như vậy, ông của bạn chỉ có quyền sở hữu đối với ½ + (1/2 : 6)= 7/12 diện tích mảnh đất đó, phần diện tích đất còn lại thuộc sở hữu của 2 bác, bố bạn và 2 cô. Trong trường hợp ông của bạn muốn sang tên cho bố của bạn toàn bộ mảnh đất thì cần phải có sự đồng ý của 2 bác và 2 cô của bạn.

Tuy nhiên, Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015 cũng quy định:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế
1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;
b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.
2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Như vậy, thời hiệu để khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế. Theo quy định tại khoản 1 Điều 633 Bộ luật dân sự năm 2015thì thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết nên nếu tính từ thời điểm bà của bạn chết đến giờ đã hơn 10 năm thì những người có quyền hưởng di sản bao gồm cả 2 cô của bạn sẽ không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế nữa.

Trong trường hợp thời hiệu để khởi kiện yêu cầu chia di sản vẫn còn thì 2 cô cũng như 2 bác của bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án chia di sản thừa kế. Khi đó, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết yêu cầu chia di sản.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn.Chúng tôi hy vọng rằng ý kiến của chúng tôi đã phần nào làm sáng tỏ những vướng mắc của bạn. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua email Tư vấn pháp luật đất đai qua Email hoặc qua đường dây nóng (24h/7) 1900.6162

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Quy định về quyền thừa kế đất đai ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trước năm 1975 ông bà nội tôi có một miếng đất và ba tôi sống với ông bà nội. Sau năm 1975 ba tôi đã đi làm ăn xa và ít khi liên lạc. Rồi dần mất liên lạc nên khi ông bà tôi mất ba tôi cũng không biết nên đã không về chịu tang. Sau khi ông ba mất thì miếng đất do bà cô thứ sáu ở và sử dụng. Theo tôi biết thì bác hai và bác ba tôi là trai nên đã ra ở riêng, nội tôi chỉ còn cô sáu cô bảy và ba tôi là út.
Vào năm 1999 ba tôi về lại quê nhà và có xin cô sáu miếng đất để ở nhưng cô sáu chỉ cho miếng đất đủ để cất cái nhà nhỏ mà không chia cho ba tôi vì nói ba tôi không về chịu tang khi ông bà nội tôi mất. Vì vậy miếng đất tới giờ vẫn chưa được làm giấy tờ. Vậy cho tôi hỏi thì theo quy định ba tôi là con út thì có được chia đất không ?
Mong được giải đáp. Chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Trong trường hợp của bạn, bạn không nói rõ là miếng đất của ông bà nội bạn có được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chưa, nếu chưa thì cần xác định miếng đất trên là di sản thừa kế theo tại mục II, Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình. Trường hợp miếng đất trên là di sản thì ba của bạn được quyền thừa kế. Do ông bà bạn mất không để lại di chúc nên di sản trên sẽ được thừa kế theo pháp luật (theo Điều 650 Bộ luật dân sự năm 2015). Theo quy định tại Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 về hàng thừa kế thì:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Như vậy bố bạn thuộc hàng thừa kế thứ nhất cùng với hai bác trai và hai cô của bạn, tổng cộng là 5 người. Những người thừa kế cùng hàng thì được hưởng phần di sản bằng nhau, miếng đất trên sẽ được chia làm 5 phần. Nếu cô của bạn không chịu chia đất thì bố bạn có thể khởi kiện ra tòa án yêu cầu chia di sản.

Trong trường hợp của bạn bạn không nói rõ ông bà nội bạn mất năm bao nhiêu để xác định thời hiệu thừa kế. Bởi vì theo luật dân sự 2015 có quy định tại Điều 623 về thời hiệu thừa kế như sau:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Di sản trên là bất động sản có thời hiệu yêu cầu chia di sản là 30 năm kể từ thời điểm mở thừa kế (người để lại di sản chết), nếu còn thời hiệu trên bố bạn có thể khởi kiện ra tòa yêu cầu chia di sản.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài