1. Tư vấn về quyền thừa kế đất đai của con trưởng ?

Thưa Luật sư, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Bố mẹ tôi mất từ năm 1985, không để lại di chúc về quyền thừa kế đất ở cho tôi. Nhưng là con trưởng nên tôi chịu trách nhiệm sở hữu mảnh đất đó và nộp thuế đầy đủ. Đến nay đã 30 năm.
Liệu tôi có được coi là chủ sở hữu hợp pháp của mảnh đất này không ? Và các chị gái của tôi, có được hưởng thừa kế gì từ mảnh đất này không ạ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: Dr.Lý

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi cho chúng tôi. Với câu hỏi của bạn, chúng tôi xin được trả lời như sau:

Theo như nội dung thư mà bạn trình bày, bố mẹ bạn qua đời từ năm 1985. Như vậy, tính đến thời điểm hiện tại, bố mẹ bạn đã qua đời được khoảng 30 năm. Do đó, với vụ việc này, nếu có tranh chấp xảy ra thì sẽ được giải quyết theo quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về tranh chấp tài sản chung mà không được xem là tranh chấp về thừa kế vì theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện về thừa kế chỉ là 10 năm kể từ thời điểm người có tài sản chết:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”.

Do đó, trong trường hợp này, khi có tranh chấp về tài sản thừa kế, chúng ta sẽ giải quyết theo các quy định của Bộ luật Dân sự 2005 về tranh chấp tài sản chung có nguồn gốc từ việc chia di sản thừa kế. Theo đó, trường hợp của bạn theo quy định của pháp luật sẽ được giải quyết như sau:

Vì bố mẹ qua đời mà không để lại di chúc vì thế, di sản thừa kế sẽ được chia theo pháp luật. Cụ thể theo quy định tại điều 651 Bộ luật Dân sự 2015

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Do đó, dù bạn là con trưởng, tuy nhiên bạn không phải là chủ sở hữu của toàn bộ di sản thừa kế mà chỉ là chủ sở hữu với phần di sản mà bạn được hưởng sau khi hoàn tất các thủ tục luật định. Chị gái bạn vẫn có quyền hưởng mộ phần tài sản theo quy định của pháp luật.

Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Tư vấn về vấn đề thừa kế đất đai theo pháp luật ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Ông, Bà nội tôi (Đã chết - không để lại di chúc) có để lại Đất và tài sản gắn liền với đất. Ông, Bà nội tôi chỉ còn 6 người con, hiện nay Ông chú tôi đang ở trong ngôi nhà đó và cả gia đình thống nhất bằng lời nói là Chú tôi được phép ở mà không có quyền định đoạt tài sản (Đất và tài sản gắn liền với đất) này.

Như vậy có 3 trường hợp có thể xảy ra như sau:

1/ Nếu như đất và tài sản gắn liền với đất( Tài sản) của Ông bà nội năm trong khu quy hoạch giải tỏa trắng

- Tiền đền bù thì được chia như thế nào và ai là người được thừa hưởng?

- Lô đất được nhà nước cấp để tái định cư thì người đứng tên hợp pháp lúc này là ai? Vậy là tên Ông bà nội hay tên Chú của tôi hay là tên của cả 6 người con?

2/ Không năm trong trường hợp 1, nếu Chú tôi vẫn ở trong ngôi nhà đó 10, 20, 50,..năm mà không có tranh chấp gì thì tài sản đó: của ai?

- Vẫn của Ông bà nội và được chia thành 6 phần, cho 6 người con? hay

- Người thừa kế hợp pháp lúc này mặc nhiên là của Chú tôi?

3/ Nếu không năm trong trưởng hợp trên, sau này 6 người con đều qua đời:

- Người thừa kế hợp pháp lúc này là ai? Cháu nội hay cháu ngoại, hay cả cháu nội và cháu ngoại, hay con trai của Chú tôi (vẫn ở trong nhà đó)

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: N.V.H.P

Tư vấn về quyền thừa kế đất đai của con trưởng ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Nếu đất và tài sản gắn liền với đất nằm trong khu quy hoạch.

Mảnh đất và tài sản gắn liền đất là do ông bà bạn để lại trước khi mất nên nó trở thành di sản thừa kế. Do ông bà bạn không để lại di chúc nên di sản này sẽ được chia đều cho những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo pháp luật. Theo quy định tại khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 hàng thừa kế thứ nhất bao gồm vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Theo đó 6 người con của ông bạn sẽ là người được hưởng di sản thừa kế, mảnh đất và tài sản gắn liền với đất sẽ được chia đều cho 6 người con.

Nếu mảnh đất và tài sản gắn liền với đất đó nằm trong khu quy hoạch giải tỏa trắng thì số tiền được bồi thường sẽ được chia đều cho 6 người con của ông bà bạn.

Trường hợp nhà nước cấp 1 lô đất khác để tái định cư thì đây vẫn được coi là tài sản thừa kế và về nguyên tắc thì nó sẽ trở tài sản thuộc sở hữu chung của 6 người con. Lúc này 6 người con có thể tiến hành khai nhận và nộp hồ sơ xin tách thửa. Lô đất sẽ được tách đều cho 6 người và mỗi người sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất của mình.

2. Nếu Chú tôi vẫn ở trong ngôi nhà đó 10, 20, 50,..năm mà không có tranh chấp gì.

Trường hợp thứ nhất mảnh đất mà ông bà bạn để lại có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên ông bà bạn. Thì cho dù chú bạn có ở đó 10, 20, 50.. năm thì mảnh đất đó vẫn được coi là tài sản thừa kế và vẫn được chia đều cho 6 người.

Trường hợp thứ hai là mảnh đất mà ông bà bạn để lại không có giấy chứng nhận quyền sử dụng. Nếu chú bạn vẫn ở trong căn nhà đó 10,20...năm mà không có tranh chấp thì trong trường hợp này nếu chú bạn nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì vẫn được cấp. Điều 101 Luật đất đai 2013 quy định như sau:

" Điều 101. Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và không vi phạm pháp luật về đất đai, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt đối với nơi đã có quy hoạch thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

3. Chính phủ quy định chi tiết Điều này."

3. Trường hợp cả 6 người con đều qua đời.

Nếu cả 6 người con đều qua đời tức là những người ở hàng thừa kế thứ nhất không con ai, thì tài sản thừa kế sẽ thuộc về những người thuộc hàng thừa kế thứ hai. Theo quy định tại Điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì hàng thừa kế thứ hai bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Theo đó cả cháu nội và cháu ngoại đều được hưởng thừa kế.

Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Tư vấn thừa kế đất đai theo pháp luật hiện hành ?

Kính chào luật sư! cho tôi hỏi về vấn đề sau: Sau khi bác trai tôi (anh ruột của bố tôi) lấy vợ,ông bà nội tôi có tách bìa đỏ cho bác trai tôi và sổ đỏ được đứng tên bác trai. Năm 2001 bác trai mất không để lại di chúc, đến năm 2012 bác gái mang sổ đỏ mang tên bác trai cho người khác mượn đi thế chấp.

Xin hỏi luật sư là giờ bà nội tôi muốn đòi quyền thừa kế mảnh đất có được không? Bác trai và bác dâu cũng không có con chung, con riêng và con nuôi, giờ bác đang sống một mình ?

Tôi xin cảm ơn!

Người gửi: P.H

>> Luật sư tư vấn luật dân sự về thừa kế tài sản gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì ông bà bạn tách bìa đỏ cho bác trai bạn sau khi bác lấy vợ; do đó, nếu ông bà bạn không có giấy tờ chứng minh là phần đất đó ông bà tặng riêng cho bác trai bạn thì đây được coi là tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, về nguyên tắc khi bác trai bạn chết thì di sản của bác trai bạn để lại là 1/2 mảnh đất ông bà đã sang tên cho bác trai bạn. Do bác trai bạn chết không để lại di chúc nên di sản trong trường hợp này sẽ được chia theo pháp luật theo quy định tại Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 như sau:

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Theo quy định trên những người có quyền thừa kế di sản của bác trai bạn đó là: ông bạn (nếu còn sống), bà bạn và bác dâu bạn.

Mặt khác, Điều 623 Bộ luật Dân sự có quy định về thời hiệu khởi kiện về thừa kế:

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.”.

Như vậy, trong trường hợp này, thời hiện khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản đã hết; do đó bà bạn sẽ không có quyền khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế nữa.

Tuy nhiên, theo khoản 2.4 Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có quy định về việc không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế:

"2.4. Không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết và cần phân biệt như sau:

a.1. Trường hợp có di chúc mà các đồng thừa kế không có tranh chấp và thoả thuận việc chia tài sản sẽ được thực hiện theo di chúc khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo di chúc.

a.2. Trường hợp không có di chúc mà các đồng thừa kế thảo thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo thoả thuận của họ.

a.3. Trường hợp không có di chúc và các đồng thừa kế không có thoả thuận về phần mỗi người được hưởng khi có nhu cầu chia tài sản, thì việc chia tài sản chung đó được thực hiện theo quy định của pháp luật về chia tài sản chung.

b. Trường hợp người chết để lại di sản cho các thừa kế nhưng các thừa kế không trực tiếp quản lý, sử dụng mà di sản đó đang do người khác chiếm hữu bất hợp pháp hoặc thuê, mượn, quản lý theo uỷ quyền... thì các thừa kế có quyền khởi kiện người khác đó để đòi lại di sản."

Như vậy, bà bạn và bác dâu bạn có thể chọn một trong hai cách sau để đảm bảo quyền lợi của các bên:

- Cách 1: Họp mặt những đồng thừa kế để thỏa thuận các nội dung như: Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc; Cách thức phân chia di sản (Điều 681 Bộ luật Dân sự). Các bên có thể cùng nhau đến tổ chức công chứng trên địa bàn nơi có bất động sản để yêu cầu chia di sản thừa kế. Tuy nhiên, để thực hiện theo cách này thì phải có sự đồng thuận của tất cả các đồng thừa kế.

- Cách 2: Khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung: Để khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung thì các đồng thừa kế phải có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Khi có văn bản xác nhận có chữ ký của tất cả các đồng thừa kế thì di sản do người chết để lại chuyển thành tài sản chung của các thừa kế và Tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết.

Trân trọng ./.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Tư vấn về vấn đề thừa kế đất đai ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Do bà nội tôi sống với gia đình tôi. Từ trước đây đến nay gia đình tôi đang sống trên mảnh đất của ông bà để lại và không có tranh chấp gì.

Tất cả các bác, cô trong gia đình đều đã đồng ý bằng văn bản cho gia đình tôi toàn quyền sử dụng, và bố tôi cũng đã làm và đứng tên chủ sổ đỏ. Hiện nay, trong gia đinh đang phát sinh tranh chấp liên quan tới việc các bác đòi chia số đất đó. Gia đình tôi vì sức ép nên đã kí vào bản thỏa thuận đôi bên là chia đều đất.

1. Vậy nay tôi xin hỏi là gia đình tôi có phải trao trả lại đất theo thừa kế không?

2. Hiện nay, bà nội vẫn sống cùng gia đình tôi, trong trường hợp phải chia lại đất để ở thì gia đình tôi còn phải làm thêm giấy tờ gì không ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: Phạm Văn Dương

Tư vấn về vấn đề thừa kế đất đai ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo như nội dung mà bạn trình bày thì diện tích đất này là do ông bà để lại tuy nhiên bạn lại chưa nói rõ quyền sử dụng đất này trước khi chuyển nhượng cho bố bạn đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là thuộc quyền sở hữu của ai. Do đó, với trường hợp của bạn, chúng tôi xin được chai thành các trường hợp sau:

Trường hợp 1: Quyền sử dụng đất này vốn là của ông bà bạn đã mất để lại cho các cháu là bố bạn và các cô, dì,chú, bác của bạn. Trong trường hợp này, quyền sử dụng đất sẽ được xem là di sản thừa kế của ông bà bạn đối với những người thừa kế của ông bà. Những người thừa kế này có thể được xác định theo di chúc nếu có di chúc, nếu không có di chúc thì sẽ được chia theo pháp luật, bao gồm những đối tượng sau theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Do đó, bạn phải tự xác định trong trường hợp của gia đình bạn, những ai được xem là người thừa kế theo quy định trên của pháp luật. Sau đó,phải xác định phần quyền của mỗi người đối với di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo thừa kế theo pháp luật. Nếu những người thừa kế đều đồng ý nhường lại phần di sản mà họ được hưởng thì trong trường hợp này bố bạn mới được toàn quyền hưởng di sản thừa kế. Việc thỏa thuận phải được lập thành văn bản theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

Điều 656. Họp mặt những người thừa kế

1. Sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

a) Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

b) Cách thức phân chia di sản.

2. Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

Nếu không thực hiện đúng theo các quy định trên thì việc bố bạn đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất là di sản thừa kế sẽ không phù hợp với các quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, việc những người thừa kế còn lại yêu cầu chia di sản thừa kế là hoàn toàn có căn cứ pháp luật.

Trường hợp 2: Quyền sử dụng đất này là tài sản chung vợ chồng giữa ông nội và bà nội bạn. Trong trường hợp này, bà nội bạn vẫn còn sống nên giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với phần quyền của bà nội bạn trong khối tài sản chung vợ chồng sẽ không được phân chia với tư cách là di sản thừa kế. Chỉ có phần giá trị quyền sử dụng đất tương ứng phần quyền của ông nội bạn (nếu ông bạn đã mất) mới được chia thừa kế. Cách thức phân chia di sản thừa kế với phần di sản của người đã mất tương tự như trường hợp 1.

Do đó, bạn càn đối chiếu các điều kiện mà chúng tôi đã nêu trên với trường hợp của bạn để xác định việc bố bạn có được quyền đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất hay không. Nếu việc đứng tên trên toàn bộ quyền sử dụng đất của bố bạn không đáp ứng các điều kiện nêu trên thì những người thừa kế còn lại sẽ có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật. Nếu phải chia lại đất theo thỏa thuận giữa những người thừa kế hoặc theo bản án, quyết định của tòa thì có thể các bên có quyề và lợi ích liên quan sẽ phải tiến hành thay đổi nội dung thông tin trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho phù hợp với phần quyền của mỗi người.

Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi với yêu cầu của bạn. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Hướng dẫn về quyền thừa kế người định cư ở nước ngoài ?

Thưa luật sư, Tôi có vài câu hỏi mong được luật sư tư vấn ạ. Xin trân trọng cảm ơn. Số là bố mẹ tôi lớn tuổi có lập di chúc chia đất lại cho con cái trong nhà. Nhưng anh tôi hiện định cư nước ngoài ( vẫn mang quốc tịch Việt Nam ) thì sau khi bố mẹ mất có được phép đứng tên thừa hưởng nhà đất thừa kế ko ạ.
Nếu được thì cần những giấy tờ gì hợp lệ. Người nhà ở Việt Nam có thể làm hộ giấy tờ sở hữu hay bắt buộc anh tôi phải về nước. Và chị dâu tôi có cần phải về ký giấy gì ko ạ hay chỉ một mình anh tôi là được. và diện tích được quy định được sở hữu là bao nhiêu ạ ?
Vì đi lại khó khăn kính mong sự tư vấn giúp đỡ của luật sư. Xin rất cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Về quan hệ thừa kế có yếu tố nước ngoài, theo quy định tại Điều 680 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về pháp luật áp dụng như sau:

1. Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.

2. Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.

Việc anh bạn là người Việt Nam định cư ở nước ngoài không làm hạn chế quyền được hưởng di sản thừa kế của anh bạn. Sau khi bố mẹ bạn mất, thủ tục khai nhận di sản thừa kế sẽ được tiến hành theo quy định của pháp luật Việt Nam, cụ thể là tại Điều 58 Luật Công chứng năm 2014 và Điều 18 của Nghị định số 29/2015/NĐ-CP.

Ngoài ra, Người Việt Nam định cư tại nước ngoài, theo quy định tại Điều 7 Luật nhà ở năm 2014 cũng là một trong các đôi tượng được sở hữu nhà ở tại Việt Nam. bên canh đó, điểm b Khoản 2 Điều 8 Luật nhà ở năm 2014 có quy định về một trong các điều kiện sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài như sau:

b) Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì thông qua hình thức mua, thuê mua nhà ở thương mại của doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh bất động sản (sau đây gọi chung là doanh nghiệp kinh doanh bất động sản); mua, nhận tặng cho, nhận đổi, nhận thừa kế nhà ở của hộ gia đình, cá nhân; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật;

Ngoài ra, Điều khoản 1 Điều 10 Luật Nhà ở năm 2014 quy định về quyền của người sở hữu nhà ở như sau:

1. Đối với chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì có các quyền sau đây:

a) Có quyền bất khả xâm phạm về nhà ở thuộc sở hữu hợp pháp của mình;

b) Sử dụng nhà ở vào mục đích để ở và các mục đích khác mà luật không cấm;

c) Được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở thuộc quyền sở hữu hợp pháp của mình theo quy định của Luật này và pháp luật về đất đai;...

Và Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 quy định:

1. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

2. Người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam có các quyền và nghĩa vụ sau đây:

a) Quyền và nghĩa vụ chung quy định tại Điều 166 và Điều 170 của Luật này;

Mà một trong các quyền chung của người sử dụng đất theo quy định tại Khoản 1 Điều 166 gồm có: "Được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất".

Như vậy, anh bạn nếu thuộc trường hợp người Việt Nam định cư tại nước ngoài được ở hữu nhà ở tại Việt Nam sẽ được đứng tên thừa hưởng di sản thừa kế là nhà đất tại Việt Nam.

- Nếu anh bạn vì điều kiện không thể đi lại hai nơi, bạn có thể lựa chọn phương án sau:

1. Anh bạn có thể từ nước ngoài, gửi bản sao các giấy tờ tùy thân như và các giấy tờ chứng minh quan hệ cha - con với người để lại di sản để các anh em ở Việt Nam đi làm thủ tục khai nhận di sản thừa kế. Sau đó chỉ cần đợi đến thời điểm ký văn bản khai nhận di sản thừa kế, anh bạn sẽ về nước và ký vào văn bản đó.

2. Nếu anh bạn không thể về được, anh bạn có thể gửi bản sao các giấy tờ ở phương án 1 kèm theo văn bản ủy quyền về việc làm thủ tục khai nhận di sản cho người thân ở Việt Nam. Việc ủy quyền phải thực hiện tại Cơ quan đại diện ngoại giao (Đại sứ quán, Lãnh sự quán) của Việt Nam tại nước nơi anh bạn đang cư trú. Người được ủy quyền sẽ thực hiện nội dung công việc trong phạm vi được anh bạn ủy quyền.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật