1. Chia đất có nhà thờ, từ đường theo diện thừa kế
Nhà từ đường hay còn gọi là nhà thờ là công trình chuyên dụng dành riêng cho mục đích thờ cúng tổ tiên của một dòng họ hay từng chi họ tính theo phụ hệ dòng của cha. Nhà từ đường là một trong những nét văn hóa phổ biến của người Việt tại khu đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ. Chi họ lớn, sau khi đã phân chi thì nhà thờ của dòng trưởng nam sẽ là nơi thờ phụng từ đời ông Thủy tổ, nơi giữ gia phả gốc. Các nhánh họ khác đều có nơi thờ cũng riêng từ đời ông tổ chi trưởng, gọi là nhà thờ chi họ hay cửa họ.
Theo quy định tại Điều 211 Bộ luật dân sự năm 2015 thì:
“1. Sở hữu chung của cộng đồng là sở hữu của dòng họ, thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc, cộng đồng tôn giáo và cộng đồng dân cư khác đối với tài sản được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyền góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng.
2. Các thành viên của cộng đông cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
3. Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.”
Khoản 5 Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 quy định:
“Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tàỉ sản khác gắn liền với đất.”
Điều 160 Luật Đất đai năm 2013 quy định:
"1. Đất tín ngưỡng gồm đất có công trình dinh, đên, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
2. Việc sử dụng đất tín ngưỡng phải đúng mục đích, phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đô thị, quy hoạch xây dựng điểm dân cư nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
3. Việc xây dựng, mở rộng các công trình đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ của cộng đồng phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.”
Điều 645 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng:
“1. Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng.
Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.”
Như vậy, về nguyên tắc thì nhà từ đường là công trình của tập thể nên do các thành viên của tập thể đồng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán, dựa trên quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Đây là loại tài sản chung hợp nhất không được phép phân chia. Do vậy, không có quyền yêu cầu chia thừa kế quyền sử dụng đất có nhà từ đường, nhà thờ họ.
Lưu ý:
- Đối với nhà vừa để ở vừa để làm nơi thờ cúng thì vẫn có thể phân chia để xem xét công sức quản lý, duy trì, tôn tạo ngôi nhà đó.
- Trong trường hợp việc thờ cúng không được thực hiện thì tham khảo, vận dụng Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 19/10/1990 của Hội đồng thẩm phán Tòa án Nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Pháp lệnh Thừa kế để giải quyết:
“Nếu thời hiệu khởi kiện về thừa kế đã hết mà việc thờ cúng không được thực hiện theo đi chúc, thì người nào trong số những người thừa kế theo pháp luật đang quản lý hợp pháp di sản đó được hưởng di sản đó; nếu người đang quản lý hợp pháp di sản dùng vào việc thờ cúng không phải là người thừa kế theo pháp luật, thì người thừa kế theo quy định tại Điều 25 của Pháp lệnh Thừa kế mà đang còn sống vào thời điểm xảy ra tranh chấp về di sản đó được hưởng”.
>> Xem thêm: Thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhà thờ họ thế nào?
2. Có thể chia di sản để xây nhà từ đường không?
Thưa luật sư! Gia đình tôi gồm 7 anh chị em (có 1 anh con trai cả và 6 chị em gái). Tuy có con trai cả nhưng không may bị tai biến nên hiếm muộn con cái. Khi cha mất, em gái út trong nhà muốn chiếm nhà của cha không cho anh chị em vô nhà để cúng kiếng. Với lý do là đây là nhà thuộc quyền sở hữu của cô em út đó vì cô có tên trong sổ hộ khẩu, còn các anh chị em khác đã cắt tên khỏi sổ hộ khẩu.Nhưng từ lúc mà cô em út ly hôn với chồng thì cô đem con gái của mình về cho cha tôi nuôi từ nhỏ đến lớn, còn cô em út bỏ xứ đi làm ăn xa lâu lâu mới về. Trong 2 năm gần đây thì cô về ở nói là chăm lo cho cha già nhưng cô vui thì chẳng nói, buồn thì cô chửi cha tôi không ra gì, thậm chí cha tôi lớn tuổi còn phải tự mình nấu cơm ăn riêng. Giờ cha mất, cô nói là cha ghi di chúc cho nhà cửa cho cô, giấy di chúc không được anh chị em tôi chấp nhận và xã phường chưa xác nhận. Mỗi lần tới ngày giỗ, khi anh chị em tôi về để cúng kiếng thì cô khóa cửa không cho vào hoặc dùng nhiều lời nặng để xúc phạm thậm chí dùng cả vũ lực. Tôi muốn nhờ Luật sư cho ý kiến, nếu anh chị em tôi đưa ra tòa để chia nhà làm 7 phần thì 6 anh chị em tôi dùng 6 phần đó làm nhà từ đường, còn phần của cô em út thì tùy cô sử dụng.Mong luật sư giải đáp thắc mắc cho tôi!
>> Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, gọi:1900.6162
Trả lời:
Điều 632, Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về Di chúc hợp pháp như sau:
1. Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp, nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Việc di chúc bằng văn bản không có người làm chứng thì người lập di chúc phải tự viết tay và ký vào bản di chúc, đồng thời phải tuân theo Điều 633 Bộ luật dân sự 2015:
1. Di chúc gồm các nội dung chủ yếu sau:
a) Ngày, tháng, năm lập di chúc;
b) Họ, tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
c) Họ, tên người, cơ quan, tổ chức được hưởng di sản;
d) Di sản để lại và nơi có di sản.
2. Ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này, di chúc có thể có các nội dung khác.
3. Di chúc không được viết tắt hoặc viết bằng ký hiệu, nếu di chúc gồm nhiều trang thì mỗi trang phải được ghi số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Trường hợp di chúc có sự tẩy xóa, sửa chữa thì người tự viết di chúc hoặc người làm chứng di chúc phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa.
Di chúc bằng văn bản nếu có người làm chứng thì phải có ít nhất 2 người và người làm chứng không được là người thừa kế trong di chúc hay người thừa kế theo pháp luật, phải ký hay điềm chỉ vào bản di chúc và phải tuân theo điều kiện của di chúc bằng văn bản.
Trong trường hợp của bạn, di chúc của cha bạn nếu không có người làm chứng thì phải tự viết tay, ký vào bản di chúc, tuân theo quy định của trường hợp di chúc bằng văn bản và người lập di chúc phải có đủ điều kiện theo khoản 1 Điều 632 Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp di chúc không hợp pháp thì có thể chia theo pháp luật. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết. Trường hợp gia đình bạn có 7 anh chị em thì có thể phân chia thành 7 phần và mỗi người được hưởng 1 phần. Và sau khi đã chia được di sản thừa kế thì việc sử dụng tài sản thừa kế như thế nào là tùy thuộc vào chủ sở hữu định đoạt.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.
Luật Minh Khuê (tổng hợp & phân tích)