1. Lập di chúc trái đạo đức xã hội thì xử lý thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần luật sư tư vấn như sau: Xin cho ví dụ cụ thể di chúc như thế nào sẽ đúng pháp luật nhưng trái đạo đức xã hội ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Ví dụ:

Vợ chồng ông A và bà B kết hôn với nhau, có hai người con chung là C, D. Ông A qua đời, có để lại di chúc cho bà B được hưởng một nửa di sản với điều kiện bà phải đoạn tuyệt và từ mặt anh C, không được coi anh là con nữa còn một nửa để lại cho D. Nhưng xin lưu ý với bạn rằng, trong ví dụ trên thì một phần di chúc sẽ bị vô hiệu.

Căn cứ quy định vào khoản 1 Điều 630 Bộ luật dân sự năm 2015

“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ hoặc cưỡng ép;

b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật. »

Như vậy, một phần di chúc của ông A vô hiệu vì yêu cầu người thừa kế phải thực hiện một việc trái với pháp luật và đạo đức xã hội là bà B phải hoàn toàn đoạn tuyệt, từ mặt anh C không được coi anh là con nữa. Do vậy, phần di chúc đối với bà B bị bô hiệu, bà sẽ không phải thực hiện theo yêu cầu của ông A.

Về việc hưởng di sản thừa kế của anh C, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 651 Bộ luật dân sự 2015:

“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;”

Mặc dù ông A không yêu quý anh C, do vậy đã yêu cầu bà B phải đoạn tuyệt với anh thì mới được hưởng một nửa di sản của ông. Nhưng ông A không truất quyền thừa kế của anh C, do vậy anh C vẫn được hưởng di sản của ông A theo quy định của pháp luật. Xét về mặt tâm lý thì ông A không yêu mến anh C nhưng không có một chứng cứ nào thể hiện ý chí của ông A truất quyền thừa kế của anh C. Vậy anh C vẫn được hưởng di sản của ông A như những người con khác.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Thắc mắc về hình thức của di chúc chung có hợp pháp ?

Xin chào luật Minh Khuê ! Xin luật Minh Khuê trả lời giúp tôi thắc mắc về việc lập di chúc. Bố mẹ tôi hiện nay đã già yếu, anh trai cả có lập bản di chúc cách đây 2 năm nhưng bây giờ mới cho chúng tôi biết, di chúc đánh bằng vi tính có chữ ký của bố mẹ và anh cả.

Trong di chúc có lời cặn dặn của bố mẹ với 6 người con nhưng 5 anh chị em tôi không có mặt mà chỉ có mình anh cả, bố mẹ cũng không thấy nói gì về việc lập di chúc đó, bản di chúc có vẽ 6 ô đất của bố mẹ cho 6 người con nhưng không rõ ràng về diện tích và đã được xã ký đóng dấu đỏ. Vậy xin hỏi luật Minh Khuê anh trai tôi làm di chúc như vậy đã đúng chưa ?

Xin luật Minh Khuê tư vấn giúp tôi. Xin cảm ơn luật Minh Khuê!

Người hỏi: TT ÂN

Kính chào bạn TT Ân, rất hân hạnh được trả lời câu hỏi của bạn.

Theo quy định của Điều 627 Bộ luật Dân sự năm 2015 (BLDS) thì hình thức của di chúc hợp pháp là:

Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.

Di chúc của bố mẹ bạn thuộc trường hợp di chúc bằng văn bản, có người làm chứng và có chứng thực.

Tuy nhiên, BLDS cũng quy định về người làm chứng khi lập di chúc như sau:

"Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:

1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;

2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;

3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự."

Anh trai cả của bạn là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bố mẹ bạn, do đó, việc anh trai bạn lập di chúc và ký vào di chúc với tư cách người làm chứng là không phù hợp với quy định của pháp luật về thừa kế theo di chúc.

Mặt khác, về nội của di chúc, thông qua đây chúng tôi không thể tư vấn cho bạn cụ thể, rõ ràng về việc di chúc phải có những nội dung gì thì mới được chấp nhận, bạn có thể tham khảo thêm trong BLDS năm 2015, nhưng bạn có nói trong di chúc có vẽ 06 ô đất của bố mẹ chia cho 06 người con nhưng không nói rõ diện tích, cũng là một yếu tố khiến cho di chúc trở nên không rõ nghĩa.

Với 2 lý do trên, bạn và 4 người anh chị em còn lại hoàn toàn có quyền yêu cầu không chấp nhận di chúc.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Lập di chúc chung vợ chồng như thế nào cho phù hợp ?

Tài sản chung của vợ chồng ở Việt Nam là một chế định rất phổ biến và các vấn đề pháp lý phát sinh từ đây cũng vô cùng phong phú. Một trong số đó là vấn đề di chúc chung của vợ chồng.
Vậy di chúc chung vợ chồng được lập sau thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực thì có được pháp luật ghi nhận hay không?

 Giải quyết thế nào cho phù hợp về di chúc chung vợ chồng

Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Quy định về di chúc chung của vợ chồng

Theo tiến trình phát triển lịch sử lập pháp, di chúc chung vợ chồng đã được thừa nhận chính thức kể từ năm 1981 bởi thông tư ban hành bởi TANDTC, sau đến là Pháp Lệnh thừa kế năm 1990, Bộ luật dân sự (BLDS)1995, Bộ luật dân sự 2005 (Bộ luật dân sự 2015) vẫn tiếp tục kế thừa quy định này. Di chúc chung vợ chồng có những đặc trưng có thể kể đến như: (i) do hai ý chí cá nhân cùng tham gia định đoạt dựa trên mối quan hệ hôn nhân đang còn hiệu lực; (ii) dùng để định đoạt khối tài sản chung của vợ chồng; (iii) có hiệu lực không đồng thời với thời điểm mở thừa kế của bên chết trước.

Việc thừa nhận di chúc chung vợ chồng xuất phát từ tính ưu việt của nó trong việc duy trì tính thống nhất trong khối tài sản chung, thông qua quy định về thời điểm có hiệu lực của di chúc bắt đầu kể từ khi “bên sau cùng chết hoặc tại thời điểm hai vợ chồng cùng chết”. Theo đó, trong thời gian này, người còn sống được bảo vệ khá tốt trong khối tài sản chung cho đến khi họ qua đời, tránh tình trạng cuộc sống của người còn lại bị gián đoạn.

Tuy nhiên, trong quá trình thực thi pháp luật cũng như thực tiễn xét xử tại TAND các cấp về vấn đề di chúc chung vợ chồng lại phát sinh nhiều bất cập. Có thể kể đến như thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng đã làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người còn sống, như trong trường hợp người còn sống gặp khó khăn, bệnh tật nhưng họ không thể chuyển nhượng phần tài sản của mình trong khối tài sản chung của vợ chồng. Thêm vào đó, thực tiễn đã có những câu hỏi xoay quanh trường hợp trong thời gian người vợ/chồng còn sống đã sử dụng di sản chưa phân chia vào sản xuất kinh doanh, thu được những lợi nhuận thì lợi nhuận phát sinh này được xem là di sản thừa kế hay thuộc quyền sở hữu của người vợ/chồng còn sống đó? Không những vậy, quy định về di chúc chung vợ chồng còn làm ảnh hưởng đến quyền lợi của những người thừa kế của bên chết trước vì họ cũng phải chờ đến thời điểm di chúc chung có hiệu lực thì mới được phân chia di sản. Hơn nữa, điều này thực tế còn ảnh hưởng khá nặng nề đến lợi ích của các chủ nợ, đặc biệt là các ngân hàng; bởi lẽ, theo quy định, các nghĩa vụ tài sản và các khoản chi phí liên quan đến thừa kế được thanh toán trước khi chia di sản theo những thứ tự ưu tiên. Vấn đề được đặt ra là, người chồng/vợ chết trước có nghĩa vụ về tài sản với người khác do có hành vi gây thiệt hại, do vay tài sản… thì quyền tài sản của các chủ nợ đó được giải quyết như thế nào, khi mà những người thừa kế chưa được hưởng di sản? Người chồng/vợ còn sống có nghĩa vụ thanh toán cho các chủ nợ từ tài sản của người chết để lại với tư cách là người thừa kế hay là người được uỷ nhiệm, pháp luật thời bấy giờ vẫn không quy định cụ thể. Bên cạnh đó, việc tồn tại di chúc chung vợ chồng còn phát sinh nhiều vướng mắc trong quy định về thời hiệu thừa kế, khi trong một số trường hợp, khi người còn lại chết thì thời hiệu khởi kiện đối với di sản của người chết trước cũng đã hết.

Giải quyết thế nào khi BLDS 2015 bỏ quy định về di chúc chung của vợ chồng?

Xuất phát từ những bất cập vừa điểm qua, nhà lập pháp Việt Nam đã bãi bỏ quy định về di chúc chung vợ chồng trong BLDS 2015. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không đồng thời cấm việc lập di chúc chung vợ chồng.

Quan hệ vợ chồng là một quan hệ hết sức đặc biệt được gắn kết bằng một chất liệu mà pháp luật đôi khi cũng chưa thể can thiệp, đó là tình cảm gắn bó vợ chồng. Do đó, thực tế tại các văn phòng công chứng vẫn tiếp nhận các trường hợp vợ chồng có mong muốn lập di chúc chung cùng với nhau để định đoạt những tài sản lớn, mang ý nghĩa tinh thần nhiều hơn là vật chất. Chính vì sự “bỏ quên” hoặc bãi bỏ quy định về di chúc chung vợ chồng của BLDS 2015 khiến cho các công chứng viên lúng túng, hình thành hai luồng quan điểm trái ngược giữa “pháp luật hiện hành không thừa nhận di chúc chung vợ chồng” và “pháp luật không cấm đồng nghĩa với việc vẫn chấp nhận giá trị của di chúc chung vợ chồng”. Bên cạnh đó, một cách khôn khéo, nhiều cặp vợ chồng đã lập những di chúc riêng nhưng tự nguyện ràng buộc nhau bằng quy định “Trường hợp theo ý chí của người lập di chúc, di sản chỉ được phân chia sau một thời hạn nhất định thì chỉ khi đã hết thời hạn đó di sản mới được đem chia” (Điều 661 BLDS 2015). Như vậy, việc lập di chúc chung của vợ chồng có thể gián tiếp thực hiện, cụ thể được áp dụng theo cơ chế đồng sở hữu và theo ý chí của người lập di chúc có thể xác định thời hạn của chia di sản là sau khi đồng chủ sở hữu cuối cùng chết hoặc tại thời điểm tất cả đồng chủ sở hữu cùng chết.

Câu hỏi được đặt ra tại thời điểm này là: Di chúc chung vợ chồng được lập sau thời điểm BLDS 2015 có hiệu lực thì có được pháp luật ghi nhận hay không? Hay nói một cách khác là, nếu không có quy định cấm lập di chúc chung một cách minh thị thì liệu có được hiểu là không cho phép vợ chồng lập di chúc chung để định đoạt tài sản chung hay không?

Trước hết, đi từ bản chất vấn đề, di chúc được định nghĩa “là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết” (Điều 624 BLDS 2015); ngoài ra, di chúc còn được ghi nhận là một dạng giao dịch dân sự, trên cơ sở Điều 116 BLDS 2015, “giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”. Một cách hợp lý, những điều luật trên chỉ thể hiện di chúc là “ý chí của cá nhân” chứ không bắt buộc là “ý chí của một cá nhân” nên hoàn toàn có thể hiểu vợ chồng được lập di chúc chung. Nói cách khác, hoàn toàn không đủ cơ sở để cho rằng pháp luật hiện hành cấm lập di chúc chung của vợ chồng.

Di chúc chung vợ chồng rõ ràng đã rơi vào vùng chưa có điều luật quy định cụ thể của pháp luật dân sự hiện hành. Do đó, hướng xử lý vấn đề sẽ được tiến hành theo tinh thần của BLDS 2015: Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thoả thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự; trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng (Điều 6 BLDS 2015). Theo đó, trong trường hợp pháp luật chưa có những quy định ghi nhận một cách rõ ràng về giá trị pháp lý của di chúc chung vợ chồng thì Tòa án, mà cụ thể là những Thẩm phán, cần có những nhận định hết sức khoa học, khách quan và phù hợp nhằm đưa ra những phán quyết chính xác, cao hơn là những án lệ mang tính mẫu mực, đối với những vụ việc thực tiễn phát sinh tại Tòa án về vấn đề di chúc chung của vợ chồng.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến về đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất

4. Chia thừa kế khi không để lại di chúc như thế nào ?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc sau mong luật sư giải đáp ạ. Trước khi lấy nhau, cha mẹ tôi mỗi người đã có một người con riêng. Sau khi lấy nhau, mẹ tôi đưa con riêng về ở cùng cha tôi trên đất được hợp tác xã ngày trước chia cho.

Sau đó cha mẹ tôi sinh được 3 người con: chị tôi, một người anh (đã mất) và tôi. Sau khi con riêng của mẹ lấy vợ, cha tôi làm đơn xin Hợp tác xã cắt đất cho anh ra ở riêng (ở mảnh đất khác), anh mất năm 1991 nhưnng có 4 người con hiện còn sống.

Con riêng của cha là liệt sỹ hy sinh năm 1979 nhưng có 1 người con hiện còn sống. Cha tôi mất năm 1975 và mẹ tôi mất năm 2008. Cả cha và mẹ tôi mất đều không để lại di chúc. Hiện nay gia đình tôi bàn bạc phân chia tài sản thì phần đất mà cha mẹ tôi để lại được phân chia như thế nào? Các cháu là con của con riêng của cha và mẹ có được phân chia không? Nếu được thì phân chia như thế nào? Ngoài ra, trình tự, thủ tục giải quyết phân chia tài sản thừa kế mảnh đất nếu trên như thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Người gửi: N.N.M

>> Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế đất đai trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời

Điều 651 Bộ luật dân sự 2015 quy định: Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Điều 652. Thừa kế thế vị

Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống.

Như vậy, trong quy định trên, di sản thừa kế của bố mẹ bạn nếu không có di chúc và nhưng người đồng thừa kế không thỏa thuận được thì pháp luật quy định chia tài sản thừa kế như sau:

- 1/2 giá trị quyền sử dụng đất là di sản thừa kế của cha bạn, được chia đều cho các đồng thừa kế của cha bạn gồm: Mẹ bạn (do mẹ bạn còn sống khi cha bạn mất); chị bạn; bạn; anh bạn (do anh bạn mất năm 1991, mất sau bố bạn); con riêng của bố bạn (do mất năm 1979, mất sau bố bạn). Ở đây, do anh bạn và con riêng của bố đều mất sau bố bạn nên không có thừa kế thế vị. Phần di sản mà anh bạn; con riêng của bố bạn sẽ được chia cho những người thừa kế của anh bạn, con riêng của bạn (vợ và các con của họ).

Nếu con riêng của mẹ bạn khi về chung sống mà có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con thì con riêng của mẹ bạn cũng được hưởng thừa kế của cha bạn như những đồng thừa kế khác theo điều 654 BLDS

Điều 654. Quan hệ thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế

Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật này.

- 1/2 giá trị quyền sử dụng đất và phần di sản thừa kế mà mẹ bạn được hưởng từ bố bạn sẽ được chia đều cho các đồng thừa kế của mẹ bạn: chị bạn, bạn, con riêng của mẹ bạn; con của anh bạn (có thừa kế thế vị vì anh bạn mất trước mẹ bạn)

Dựa vào những phân tích trên, các đồng thừa kế có thể thỏa thuận phân chia di sản. Nếu không thỏa thuận được thì có thể khởi kiện ra Tòa.

Thành phần hồ sơ khởi kiện:

+ Đơn khởi kiện (theo mẫu)

+ Các giấy tờ về quan hệ giữa người khởi kiện và người để lại tài sản: Giấy khai sinh, Chứng minh thư nhân dân, giấy chứng nhận kết hôn, sổ hộ khẩu, giấy giao nhận nuôi con nuôi để xác định diện và hàng thừa kế;

+ Giấy chứng tử của người để lại di sản thừa kế;

+ Bản kê khai các di sản;

+ Các giấy tờ, tài liệu chứng minh sở hữu của người để lại di sản và nguồn gốc di sản của người để lại di sản;

+ Các giấy tờ khác: Biên bản giải quyết trong hộ tộc, biên bản giải quyết tại UBND xã, phường, thị trấn ( nếu có), tờ khai từ chối nhận di sản ( Nếu có).

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư giải quyết các tranh chấp về thừa kế

5. Chia tài sản theo di chúc của ông bà để lại khi bố mẹ ly hôn ?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi muốn nhờ luật sư tư vấn: Hiện ba mẹ tôi chuẩn bị làm thủ tục ly hôn. Ông bà nội tôi hiện còn sống và đã làm di chúc toàn bộ quyền thừa kế đất đai tài sản của ông bà tôi cho bố tôi (bố tôi theo bồ). Tôi chưa lập gia đình, em dâu tôi lại chuẩn bị sinh cháu đầu lòng và cả hai vợ chồng đều không có kinh tế để có thể nuôi nhau. Ngôi nhà mà hiện cả gia đình tôi ở đã được tôi và mẹ tôi bỏ hoàn toàn tiền ra để sửa sang làm mới (không có công của bố tôi).
Vậy nếu ly dị thì luật chia tài sản sẽ được giải quyết như thế nào ạ?
Tôi rất mong nhận được sự tư vấn của anh chị. Tôi xin chân thành cám ơn!
Người gửi: Quynh.Vu

Tư vấn phân chia tài sản theo di chúc của ông bà để lại khi bố mẹ ly hôn ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Việc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn phải tuân theo nguyên tắc giải quyết tài sản vợ chồng khi ly hôn quy định tại điều 59 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

“1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.”

Như vậy, về nguyên tắc việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Tài sản riêng của bên nào thì thuộc quyền sở hữu của bên đó.

Việc chia tài sản chung được giải quyết theo các nguyên tắc sau đây:

Tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng sẽ xem xét hoàn cảnh của mỗi bên, tình trạng tài sản, công sức đóng góp của mỗi bên vào việc tạo lập, duy trì, phát triển tài sản này. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.

Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần giá trị chênh lệch. Việc thanh toán nghĩa vụ chung về tài sản của vợ, chồng do vợ, chồng thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì yêu cầu Toà án giải quyết.

Như vậy, trước khi chia tài sản, cần phải xác định đâu là tài sản chung của vợ chồng, đâu là tài sản riêng của mỗi bên

Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản chung của vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.”

Tài sản riêng của vợ chồng được quy định tại Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:

“1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.”

Trong trường hợp này, bố bạn được ông bà nội bạn để lại thừa kế cho toàn bộ đất đai, tài sản tức là trong di chúc đã xác nhận người được hưởng di chúc chỉ có bố bạn như vậy đây sẽ là tài sản riêng của bố bạn.

Hơn nữa, Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về "Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc" như sau:

"Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó, trừ khi họ là những người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 642 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 643 của Bộ luật này:

1. Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

2. Con đã thành niên mà không có khả năng lao động."

Như vậy theo quy định của pháp luật, mẹ bạn không nằm trong diện hưởng thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc của ông bà nội bạn. Do đó, tài sản do ông bà nội bạn để thừa kế riêng cho bố bạn sẽ là tài sản riêng của bố bạn. Như vậy, đây không phải là tài sản chung của vợ chồng, và mẹ bạn sẽ không được hưởng phần giá trị nào từ khối tài sản này..

Đối với căn nhà mà cả gia đình bạn đang ở, nếu mẹ bạn chứng minh được đây là tài sản riêng của mẹ bạn chẳng hạn như căn nhà này thuộc sở hữu của mẹ bạn trước khi kết hôn hay nó là tài sản mà mẹ bạn được thừa kế riêng, tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân thì khi ly hôn căn nhà này sẽ thuộc sở hữu của mẹ bạn, bố bạn không có quyền hưởng phần giá trị nào từ căn nhà này. Nếu mẹ bạn không chứng minh được đây là tài sản riêng của mẹ bạn thì căn nhà này sẽ được suy đoán là tài sản chung của vợ chồng, bố bạn có quyền hưởng phần giá trị của căn nhà sau khi ly hôn.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi gửi đến bạn. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email hoặc qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật thừa kế - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn lập, viết, soạn thảo di chúc và quy định về di chúc trực tuyến qua tổng đài